QUYỀN NĂNG CAO CẢ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI Ở VIỆT NAM (Ê-phê 1:4-5)

FIVE ONLYS OF THE REFORMATION

October 31 is Reformation Day, the day Martin Luther (1483-1546) nailed up his 95 theses. Thus, the five “solas” or “onlys” seem appropriate:

 

  1. Scripture Alone: Scripture alone as the authority for life and practice in the church. (Only Scripture; Latin: Sola Scriptura)

 

  1. Grace Alone: God’s sovereign grace alone as the reason for our salvation without any actual or potential human merit, effort, faith, or work. (Only Grace; Latin: Sola Gratia)

 

  1. Faith Alone: Justification by faith alone and no human works. (Only faith; Latin: Sola Fide)

 

  1. Christ Alone: Salvation through the Person and work of Jesus Christ alone. (Only Christ; Latin: Solus Christus)

 

  1. Glory of God Alone: All things ultimately for the glory of God alone. (Only God’s glory; Latin: Soli Deo Gloria)

 

 

Modified from…

 

“What do I mean by Reformed Baptist?”

By D. Wayne Layton http://static1.squarespace.com/static/5470b72ae4b0a5a150755676/t/5470c977e4b0b3e05f6912cc/1416677751659/reformedbaptist.pdf

Confessions of Dort (Dordt)

Điều 1: Sự Lựa Chọn Thiên Thượng và Sự Hư Mất

Vì trong Adam mọi người đều đã phạm tội, bị rủa sả và đáng chịu chết mất đời đời, Thương Đế rất công bình nên tất cả mọi người phải bị hư mất và chịu đoán phạt bởi tội lỗi của họ gây ra, theo như lời các Sứ Đồ: Để chó miệng nào cũng phải ngậm lại, cả thiên hạ đều nhận tội trước mặt Thượng Đế (Rôma 3:19) và vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Thượng Đế (Rôm 3:23). Vì tiền công của tội lỗi là sự chết (Rôm 6:23). {Bằng Tiếng Việt: Canons of Dordt}

 

Article 1: God’s Right to Condemn All People

Since all people have sinned in Adam and have come under the sentence of the curse and eternal death, God would have done no one an injustice if it had been his will to leave the entire ­human race in sin and under the curse, and to condemn them on account of their sin. As the apostle says: “The whole world is liable to the condemnation of God” (Rom. 3:19), “All have sinned and are deprived of the glory of God” (Rom. 3:23), and “The wages of sin is death” (Rom. 6:23).

He is your life

“God is unwilling to be your means to what you call the ‘good life.’ Your relationship with him must be your definition of the good life…. It’s so natural to shop horizontally for what you will only ever find vertically and to question why God failed to deliver.”

 

-Paul D. Tripp, New Morning Mercies, June 24

Hiện “nay” kỳ lạ trong sứ mạng Cơ Đốc giáo (4 of 5)

Đây là cách sứ đồ Phao-lô diễn giải trong Rô-ma 3:19-20, chép rằng: “Vả, chúng ta biết rằng những điều mà luật pháp nói, là nói cho mọi kẻ ở dưới luật pháp, hầu cho miệng nào cũng phải ngậm lại, cả thiên hạ đều nhận tội trước mặt Đức Chúa Trời; vì chẳng có một người nào bởi việc làm theo luật pháp mà sẽ được xưng công bình trước mặt Ngài”. Nói cách khác, Đức Chúa Trời phán trong 2000 năm đó cho dân tộc Y-sơ-ra-ên hầu cho “cả thiên hạ” đều nhận biết rằng chẳng có sự trông cậy nào để được hòa thuận với Đức Chúa Trời qua những “việc công bình chúng ta đã làm” (Tít 3:5).

-John Piper, “Cái gọi là hiện ‘nay’ kỳ lạ trong sứ mạng Cơ Đốc giáo.”

Hiện “nay” kỳ lạ trong sứ mạng Cơ Đốc giáo (3 of 5)

Tại sao lại phải có sự chậm trễ quá lâu như vậy?

Bởi vì với sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, Ngài biết trước rằng các dân tộc trên thế gian sẽ hiểu rõ giá trị của Đấng Christ và công tác của Ngài một cách tốt hơn so với các phong nền 2000 năm lịch sử mà dân Y-sơ-ra-ên phải sống trong luật pháp, ân điển, đức tin, sự thất bại, của lễ chuộc tội, sự khôn ngoan, các lời tiên tri, sự thương xót và sự đoán xét.

-John Piper, “Cái gọi là hiện ‘nay’ kỳ lạ trong sứ mạng Cơ Đốc giáo.”

Hiện “nay” kỳ lạ trong sứ mạng Cơ Đốc giáo (2 of 5)

Kế hoạch chi tiết của Đức Chúa Trời

Nhưng mạng lệnh phải môn đồ hóa muôn dân chưa từng là ý nghĩ phụ thêm vào sau đó bao giờ. Đó là kế hoạch ngay từ lúc Đức Chúa Trời chọn dân Y-sơ-ra-ên. Đức Chúa Trời phán cùng Áp-ram rằng: “các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước” (Sáng thế ký 12:3).

Sau đó, sứ đồ Phao-lô đã thêm ý nghĩ nầy vào Phúc Âm về sự xưng công bình bởi đức tin nơi Đấng Christ: “Kinh thánh cũng biết trước rằng Đức Chúa Trời sẽ xưng dân ngoại là công bình bởi đức tin, nên đã rao truyền trước cho Áp-ra-ham tin lành nầy: Các dân sẽ nhờ ngươi mà được phước” (Ga-la-ti 3:8). Như vậy, Đức Chúa Trời đã muốn Phúc Âm của Đấng Christ vươn đến mọi dân tộc từ lúc Ngài chọn Áp-ram khoảng 2000 năm trước khi Đấng Christ đến thế gian.

Vậy, tại sao phải có sự chậm trễ quá lâu đến như vậy, từ trước khi Đấng Christ đến cho đến lúc Đại mạng lệnh được ban ra nhân danh Ngài?

-John Piper, “Cái gọi là hiện ‘nay’ kỳ lạ trong sứ mạng Cơ Đốc giáo.”

Hiện “nay” kỳ lạ trong sứ mạng Cơ Đốc giáo (1 of 5)

Hãy suy nghĩ về điều nầy. Đức Chúa Trời của cả cõi vũ trụ đã bày tỏ sự mặc khải đặc biệt và công tác cứu rỗi của Ngài cho một dân tộc rất ít người, dân tộc Y-sơ-ra-ên, trong vòng 2000 năm – từ khi Áp-ram được kêu gọi trong Sáng thế ký 12 cho đến khi Đấng Christ đến. Trong suốt khoảng thời gian đó, “Ngài để cho mọi dân theo đường riêng mình” (Công vụ 14:16).

Sau khi Con của Ngài bước vào thế gian, mọi sự đó đều thay đổi

Khi Chúa Jêsus đang sắp sửa về trời, Ngài phán rằng: “người ta sẽ nhân [danh Ngài] mà rao giảng cho dân các nước sự ăn năn để được tha tội” (Lu-ca 24:47). “Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân” (Ma-thi-ơ 28:19). Đây là thời điểm mấu chốt thay đổi lịch sử toàn thế giới.

-John Piper, “Cái gọi là hiện ‘nay’ kỳ lạ trong sứ mạng Cơ Đốc giáo.”

WHO SENDS REDEMPTION? AI SAI CỨU CHUỘC?

Psalm 111:9 “He sent redemption to his people; he has commanded his covenant forever. Holy and awesome is his name!”

Ngài đã sai cứu chuộc dân Ngài, Truyền lập giao ước Ngài đến đời đời. Danh Ngài là thánh, đáng kính sợ.

What does God-centered mean?

“The psalmist describes the motivation of God in saving sinners like this:

  • ‘Both we and our fathers have sinned… Yet he saved them for his name’s sake, that he might make known his mighty power.’ (Psalm 106:6, 8) [Chúng tôi và tổ phụ chúng tôi đã phạm tội… Dầu vậy, Ngài cứu họ vì cớ danh Ngài, Hầu cho bày ra quyền năng của Ngài.]

“God was motivated to rescue them and us from our sin and its penalty ‘for his name’s sake.’ What does ‘for his name’s sake’ mean? It means ‘that he might make known his mighty power.’

“What we mean when we say God is ‘God-centered’ is that he acts like that. He saves for the sake of his name. He saves to make known his own power.”

-John Piper, “What Does ‘God-Centered’ Mean?” DesiringGod.org, posted May 21, 2008

Inconsolable Desire

We have deep longings for so many things and relationships, but nothing seems to totally satisfy. Even when we enjoy those things and relationships the way they were intended by God. Only he can ultimately satisfy. All of our unmet desires remind us of our need for the triune God in heaven. Nothing short of his awesomeness will complete us; he will satisfy us by continually filling us up with himself.

-GSiV

God alone is worthy of worship

“The desire for the love of another person is not wrong, but it must not rule your heart. A desire for even a good thing becomes a bad thing when that desire becomes a ruling thing. Good things never result when love for and worship of the Creator are replaced by love for and worship of created things. So what does grace do? Grace works to rescue you from you by progressively breaking your bondage to the created world and turning the deepest affection of your heart toward God. God alone is worthy of worship.”

-Paul D. Tripp, New Morning Mercies, loc 2391.

Biết và Được Biết

“Chúng ta được tạo dựng để làm gì? Để biết Chúa.

 

Chúng ta phải đặt mục tiêu gì cho mình trong cuộc sống? Biết Chúa.

 

‘Sự sống đời đời’ mà Chúa Giê-xu ban cho là gì? Sự hiểu biết Chúa. ‘Sự sống đời đời là nhìn biết Cha, tức là Đức Chúa Trời có một và thật, cùng Cơ-rít là Đấng Cha đã sai đến’ (Giăng 17:3).

 

Điều tốt đẹp nhất trong cuộc đời, đem đến niềm vui, sự thích thú và thỏa lòng hơn bất kỳ điều gì khác, đó là gì? Hiểu biết Chúa. ‘Ðức Giê-hô-va phán như vầy: “Người khôn chớ khoe sự khôn mình, người mạnh chớ khoe sự mạnh mình, người giàu chớ khoe sự giàu mình, nhưng kẻ nào khoe hãy khoe về trí khôn mình biết Ta là Ðức Giê-hô-va…”‘ (Giê 9:23-24).”

-J. I. Packer, Biết Đức Chúa Trời, tr. 39.