QUYỀN NĂNG CAO CẢ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI Ở VIỆT NAM (Ê-phê 1:4-5)

Is “Being Slain in the Spirit” biblical?

Hiện Tượng “Chết Ngất Trong Thánh Linh” Có Được Kinh Thánh Hậu Thuẫn Hay Không?

‘Sự nhận xét của tôi là trào lưu “Nguồn Phước Toronto” … – nơi phát tích, phát nguyên của các hiện tượng “Tiếng Cười Thánh” và “Chết Ngất Trong Thánh Linh” – phản ánh một cách tinh vi nhưng hết sức nghiêm trọng về một sự tách rời khỏi “đạo lành”, tức giáo lý Kinh Thánh chân chính. Như chúng ta sẽ nhận xét thấy trong phần sau đây, Lời Kinh Thánh đã bị làm ngơ, bóp méo, và thay thế bằng các giáo lý xa lạ, những sự giảng dạy không bình thường dựa theo một sự “khải thị” ngoại Kinh Thánh. Trào lưu này đã dẫn đến một sự tiếp nhận thiếu phê phán về một loại thần học hiện sinh vốn đã thỏa hiệp với các giá trị thế tục. Dưới chiêu bài “Sự Tác Động Của Đức Chúa Trời”, đã có một sự biến dạng khỏi đức tin truyền thống theo Kinh Thánh vốn đã từng được những người Tin Lành nhận thức và theo đuổi để rồi lạc hướng vào lĩnh vực tôn sùng (cultic) và tà dị (heretical).

‘Hiện tượng “Ngã Ngữa Về Phía Sau” … là một hiện tượng đã đạt được một sự phổ biến chưa từng thấy giữa vòng các Hội Thánh ngày nay. Tuy nhiên, đó là một hiện tượng không hề có lấy được một sự hậu thuẫn Kinh Thánh nào cả. Thật ra, nếu như nó không gây hại quá nặng nề cho Hội Thánh thì hiện tượng này cũng chỉ đáng cho chúng ta cười rồi quên đi mà thôi. Thế nhưng, vì có khá nhiều Cơ Đốc Nhân hiếu kỳ đối với các biểu hiện kỳ quặc này, và họ muốn biết liệu có cơ sở Kinh Thánh nào cho các sự thực hành này hay không, cho nên cần phải có một sự phân tích thỏa đáng để tìm thấy câu trả lời, và đồng thời cũng nêu lên một sự cảnh báo nữa.’ 

-ĐNT

Đọc thêm

(Sự xác quyết niềm tin bằng Tiếng Việt)

Công đức so với nổ lực: ân điển, sự xưng nghĩa, và sự thánh hóa

Là Cơ Đốc Nhân, chúng ta biết mình có những trách nhiệm — yêu Chúa, yêu nhau, chăm sóc người góa bụa và trẻ mồ côi, tha thứ cho kẻ thù mình, chia sẻ phúc âm của Đấng Christ, môn đồ hóa, vv. Nhưng khi chúng ta đặt nổ lực vào đời sống Cơ Đốc để tăng trưởng (nên thánh), chúng ta vẫn nên hiểu rằng mình có được nổ lực chỉ vì ân điển của Chúa (xưng nghĩa). Nếu Đức Chúa Trời không cứu chúng ta thì chúng ta vẫn chết mất trong tội lỗi.

Phân biệt được “công đức” và “nổ lực” là một việc có ích. Là Cơ Đốc Nhân, chúng ta không nên bận rộn chỉ vì đó là nhiệm vụ của mình, cố gắng “đạt lấy” một cái gì đó từ Đức Chúa Trời. Ngược lại chúng ta làm tròn nhiệm vụ của mình một cách vui mừng bởi Thần Linh Ngài và đặt “nổ lực” để tăng trưởng vì chúng ta đã biết Ngài. Chúng ta đã hiểu điều này chưa? Bởi vì chúng ta là Cơ Đốc Nhân, chúng ta đã biết Ngài rồi. Như sứ đồ Phao-lô nói, “Nguyền xin chính Đức Chúa Trời bình an khiến anh em nên thánh trọn vẹn, và nguyền xin tâm thần, linh hồn, và thân thể của anh em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được, khi Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta đến! Đấng đã gọi anh em là thành tín, chính Ngài sẽ làm việc đó” (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:23-24). Sự thành tín của Đức Chúa Trời trong đời sống chúng ta sẽ đảm bảo chúng ta có những việc lành. Dù sao nữa chúng ta sẽ đặt nổ lực thực hiện việc lành.

Chúng ta có thể làm việc lành vì Đức Chúa Trời đã hành động trong chúng ta — và đang hành động trong chúng ta. Phi-líp 2:12-13 nói rõ rằng, “Ấy vậy, hỡi những kẻ rất yêu dấu của tôi, như anh em đã vâng lời luôn luôn, chẳng những khi tôi có mặt mà thôi, lại bây giờ là lúc tôi vắng mặt, hãy cùng hơn nữa, mà lấy lòng sợ sệt run rẩy làm nên sự cứu chuộc mình. Vì ấy chính Đức Chúa Trời cảm động lòng anh em vừa muốn vừa làm theo ý tốt Ngài.” Chúng ta có thể làm việc lành Đức Chúa Trời sống trong chúng ta và đang hành động qua chúng ta.

Nói tóm lại:

  • Người không tin Chúa không thể đạt lấy sự cứu chuộc từ Đức Chúa Trời. Sự cứu rỗi là hoàn toàn bởi ân điển.
  • Cơ Đốc Nhân không thể đạt lấy mối liên hệ với Đức Chúa Trời. Mối liên hệ dài lâu này hoàn toàn bởi ân điển.
  • Cơ Đốc Nhân có thể và nên đặt nổ lực để tăng trưởng trong sự thánh khiết. Sự thánh khiết (nên thánh) hoàn toàn bởi ân điển nhưng chúng ta đặt nổ lực để lớn lên.

Có phải bạn sống phần lớn là vì nhiệm vụ tín ngưỡng, nghiêm ngặt và khắc khe, cố gắng tuyệt vọng đạt lấy một thứ gì đó từ Đức Chúa Trời? Hay là, bạn tuân phục (đặt nổ lực) vì sự thỏa lòng và vui mừng từ mối quan hệ với Đấng Christ?

Earning vs effort: grace, justification, and sanctification

Ân điển, chứ không phải những quy tắc / Grace not rules

‘Giáo Luật của Dordt (Dort)’ Là Gì?–part 7

Canons of Dordt (Dort)

The Canons of Dort (Rules or Guidelines of Dordt) come from an international council (synod / Hội Nghị) of Reformed people which took place in the city of Dordrecht (Dordtrecht), Netherlands in 1618-1619.

Giáo Điều Phần Thứ I

Sự Lựa Chọn Thiên Thượng và Sự Hư Mất

  • Điều 7: Sự lựa chọn là một mục đích không thay đổi của Đức Chúa Trời. Trước khi tạo dựng nên thế gian, bởi ân điển và ý chí của Ngài, Chúa đã lựa chọn trong đám thế nhân lầm lạc và hư hoại một số người để được cứu chuộc trong Đức Chúa Giê-xu Christ là Đấng mà Đức Chúa Trời đã chỉ định làm Đấng Trung Bảo, và đứng đầu những kẻ được chọn và làm nền tảng cho sự cứu rỗi.
  • Dù những người này không tốt đẹp hay xứng đáng gì hơn những người khác, tất cả cùng mang chung một nỗi khốn khổ. Đức Chúa Trời vẫn ban cho họ sự cứu rỗi trong Đức Chúa Giê-xu Christ, và cho họ được thông công với Ngài qua lời Chúa và Thánh linh của Ngài.
  • Ngài ban đức tin thật cho họ xưng công bình và thánh hóa họ, giữ gìn họ trong sự thông công với Ngài và cuối cùng cho họ được vinh hiển để bày tỏ ơn thương xót của Ngài, để ca ngợi sự giàu có của ân điển vinh quang của Ngài, như có chép rằng: “Trước khi sáng thế Ngài đã chọn chúng ta trong Đức Chúa Giê-xu Christ, đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời, bởi sự thương yêu của Ngài đã định trước cho chúng ta được trở nên con nuôi của Ngài, bởi Đức Chúa Giê-xu Christ, theo ý tốt của Ngài, để khen ngợi sự vinh hiển của ân điển Ngài đã ban cho chúng ta cách nhưng không trong con yêu dấu của Ngài” (Ê-phê-sô 1:4-6). “Còn những kẻ Ngài đã định sẵn thì Ngài đã gọi, những kẻ Ngài đã gọi, thì ngài cũng đã xưng là công bình và những kẻ Ngài đã xưng công bình thì Ngài cũng đã làm cho vinh hiển” (Rô-ma 8:30).
  • [Election] Election is God’s unchangeable purpose by which he did the following: Before the foundation of the world, by sheer grace, according to the free good pleasure of his will, God chose in Christ to salvation a definite number of particular people out of the entire human race, which had fallen by its own fault from its original innocence into sin and ruin. Those chosen were neither better nor more deserving than the others, but lay with them in the common misery. God did this in Christ, whom he also appointed from eternity to be the mediator, the head of all those chosen, and the foundation of their salvation.
  • And so God decreed to give to Christ those chosen for salvation, and to call and draw them effectively into Christ’s fellowship through the Word and Spirit. In other words, God decreed to grant them true faith in Christ, to justify them, to sanctify them, and finally, after powerfully preserving them in the fellowship of the Son, to glorify them.
  • God did all this in order to demonstrate his mercy, to the praise of the riches of God’s glorious grace. As Scripture says, “God chose us in Christ, before the foundation of the world, so that we should be holy and blameless before him with love; he predestined us whom he adopted as his children through Jesus Christ, in himself, according to the good pleasure of his will, to the praise of his glorious grace, by which he freely made us pleasing to himself in his beloved” (Eph. 1:4-6). And elsewhere, “Those whom he predestined, he also called; and those whom he called, he also justified; and those whom he justified, he also glorified” (Rom. 8:30).

Full document in Vietnamese here.

See GSiV Resources page

(Also see here

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi: Tín Lý Về Ân Điển Quyền Năng

at GSiV)

Vietnamese Christians and assurance of salvation?

Cơ Đốc Nhân Việt Nam và sự xác tín sự cứu rỗi?

One of the great doctrines in the New Testament is that Christians can be assured of their salvation. If truly saved, they won’t lose it, and they can find their confidence in the Lord’s promises (John 10:29, 1 John 5:13). Thus, pastors ought to believe this and teach it more.

Giáo-Lý Căn-Bản Heidelberg

LỜI MỞ ĐẦU:

“Giáo-Lý Căn-Bản Heidelberg đã được viết tại Heidelberg theo lởi yêu-cầu của Tuyển-Hầu Frederick III, người cai-trị có ảnh-hưởng hầu hết các tỉnh của nước Đức, từ 1559 đến 1576.  … Sách Giáo-Lý Căn-Bản cho việc huấn-luyện Thanh-Thiếu-Niên và hướng-dẫn các Mục-Sư và Giáo-Sư….”

CHÚA NHẬT THỨ 1

1-NIỀM AN ỦI DUY NHẤT CỦA BẠN TRONG ĐỜI NÀY VÀ ĐỜI SAU LÀ GÌ?

Thân thể và linh hồn,1 đời sống hiện tại và đời sau,2 không thuộc về chính tôi nữa, nhưng thuộc về Cứu Chúa Giê-xu Cơ Đốc của tôi.3  Ngài đã trả đầy đủ cho tất cả tội lỗi của tôi bằng chính huyết báu của Ngài4 và giải cứu tôi khỏi sự áp chế của ma quỷ.5  Ngài cũng canh giữ tôi như vậy,6 không một sợi tóc nào rơi khỏi đầu tôi mà không theo ý Cha của tôi ở trên trời.7  Thật vậy, mọi việc hiệp lại với nhau vì cớ sự cứu rỗi của tôi.8  Vì tôi thuộc về Ngài nên Chúa Cơ Đốc, bởi Đức Thánh Linh, Ngài bảo đảm cho tôi sự sống đời đời9 và làm cho lòng tôi mong muốn, sẵn sàng từ nay sống cho Ngài.10

Giáo-Lý Căn-Bản Heidelberg

//

The Heidelberg Catechism

INTRO:

“The Heidelberg Catechism (1563) was composed in the city of Heidelberg, Germany, at the request of Elector Frederick III, who ruled the province of the Palatinate from 1559 to 1576. The new catechism was intended as a tool for teaching young people, a guide for preaching in the provincial churches, and a form of confessional unity among the several Protestant factions in the Palatinate.”

Lord’s Day 1

Question & Answer 1

  1. What is your only comfort
    in life and in death?
  2. That I am not my own,1
    but belong–

body and soul,
in life and in death–2

to my faithful Savior, Jesus Christ.3

He has fully paid for all my sins with his precious blood,4
and has set me free from the tyranny of the devil.5
He also watches over me in such a way6
that not a hair can fall from my head
without the will of my Father in heaven;7
in fact, all things must work together for my salvation.8

Because I belong to him,
Christ, by his Holy Spirit,
assures me of eternal life9
and makes me wholeheartedly willing and ready
from now on to live for him.10

1 1 Cor. 6:19-20
2 Rom. 14:7-9
3 1 Cor. 3:23; Titus 2:14
4 1 Pet. 1:18-19; 1 John 1:7-9; 2:2
5 John 8:34-36; Heb. 2:14-15; 1 John 3:1-11
6 John 6:39-40; 10:27-30; 2 Thess. 3:3; 1 Pet. 1:5
7 Matt. 10:29-31; Luke 21:16-18
8 Rom. 8:28
9 Rom. 8:15-16; 2 Cor. 1:21-22; 5:5; Eph. 1:13-14
10 Rom. 8:1-17

Heidelberg Catechism

(GSiV: Các Tuyên Xưng Đức Tin (Tiếng Việt) / Confessions of Faith in Vietnamese)

 

Confession

Throughout the Christian life we will need to confess our sins to God and to those people around us. The reality is, we sin. Here’s how one man wisely states it:

‘We tend to hate being confronted. We tend to have a hard time admitting when we are wrong. We tend not to be thankful when we are in the position of needing to confess sin. We tend to want to avoid looking at how much we are still in need of grace…. There really is nothing that we will ever need to admit to [confess] and to honestly face that hasn’t been fully addressed by the grace that is ours because of the life, death, and resurrection of Jesus.’

-Paul Tripp, New Morning Mercies, Sept 16

(GSiV: Prayer, & Miller: Success, Failure, and Grace,

 (& Nên Thánh Động Lực Bởi Phúc Âm)

Tội Nhân Trong Tay Thiên Chúa Đang Thịnh Nộ–part 2

Sinners in Hands of an Angry God (Việt-Eng)

‘This transcript is the most well-known sermon of pastor Jonathan Edwards (1703-1758). He preached this sermon in Enfield, Connecticut [USA] in 1741.’

‘Bài giảng này là bài giảng nổi tiếng nhất của mục sư Jonathan Edwards (1703-1758). Ông giảng bài này ở Enfield, Connecticut [Mỹ] vào năm 1741.’

“Their foot shall slide in due time.” Deut. 32:35

“…Vào lúc chân của chúng nó trượt ngã….” Phục Truyền Luật Lệ Ký 32:35

  • “Lý do duy nhất mà họ vẫn chưa ngã đổ vào sự hủy diệt đang chực chờ là vì ngày giờ Chúa định cho họ chưa đến. Như vậy, khi đến thời điểm ấy, chân của họ sẽ trượt ngã. Họ sẽ ngã bởi sức nặng của thân thể họ. Chúa sẽ không đỡ họ nơi trơn trợt ấy thêm một phút giây nào nữa, nhưng sẽ cho họ té ngay lập tức vào sự hủy diệt. Như một người đứng bên bờ dốc trơn tuột, sát mé vực thẳm, người ấy không thể đứng vững, và khi không còn gì níu giữ lại, người ấy sẽ rơi xuống và biến mất.”
  • “That the reason why they are not fallen already, and don’t fall now, is only that God’s appointed time is not come. For it is said, that when that due time, or appointed time comes, “their foot shall slide.” Then they shall be left to fall as they are inclined by their own weight. God won’t hold them up in these slippery places any longer, but will let them go; and then, at that very instant, they shall fall into destruction; as he that stands in such slippery declining ground on the edge of a pit that he can’t stand alone, when he is let go he immediately falls and is lost.”

Read the whole thing here (Việt và Anh)

(See other Vietnamese and English articles at GSiV: Missions and Evangelism)

Hồn của những người chưa được cứu thì bị cho đi Địa Ngục (Hell)

And the souls of the wicked [all those who haven’t been saved] are cast into Hell

Chapter 33:1

‘The bodies of men after death return to dust, and see corruption, but their souls, which neither die nor sleep, having an immortal subsistence, immediately return to God who gave them: the souls of the righteous being then made perfect in holiness, are received into paradise, where they are with Christ, and behold the face of God, in light and glory, waiting for the full redemption of their bodies; and the souls of the wicked are cast into hell, where they remain in torment and utter darkness reserved to the judgment of the great day; besides these two places, for souls separated from their bodies, the Scripture acknowledgeth none.’

‘Thân thể của con người sau khi chết lại trở về với bụi đất, [a] phải chịu sự tan rã, nhưng hồn của họ (vốn không chết mà cũng chẳng ngủ) vốn có bản chất bất tử nên lập tức [b] được trở về cùng Đức Chúa Trời là Đấng đã dựng nên hồn: Kể từ đó hồn của người công nghĩa được trở nên hoàn hảo trong sự thánh khiết, được vào ở trong Thiên Đàng là nơi họ được ở trong sự hiện diện của Đức Chúa Jêsus Christ và Đức Chúa Trời trong [c] sự vinh hiển của Ngài để đợi kỳ cứu chuộc cho thân thể của họ; và hồn của những người chưa được cứu [họ là kẻ ác] thì bị cho đi Địa Ngục là nơi họ phải chịu sự dày vò và ở trong sự tối tăm hoàn toàn để đợi đến ngày chịu [d] sự phán xét chung thẩm của Đức Chúa Trời; ngoài hai nơi này cho linh hồn sau khi xác đã chết Kinh Thánh không cho biết còn bất cứ nơi nào khác cả.’

  • [a]: Sáng. 3:19; Công. 13:36; [b]: Truyền. 12:7; [c]: Lu. 23:43; 2Cô. 5:1, 6, 8; Php. 1:23; Hê. 12:23; [d]: Giu. 6, 7; 1Phi. 3: 19; Lu. 16:23, 24.

Tuyên Xưng Philadelphia (1742) / Philadelphia Baptist Confession of Faith (1742)

{See other Vietnamese and English articles at GSiV:

Missions and Evangelism &

Sinners in Hands of an Angry God (Việt-Eng)}

Sinners in Hands of an Angry God (Việt-Eng)

Tội Nhân Trong Tay Thiên Chúa Đang Thịnh Nộ

‘This transcript is the most well-known sermon of pastor Jonathan Edwards (1703-1758). He preached this sermon in Enfield, Connecticut [USA] in 1741.’

‘Bài giảng này là bài giảng nổi tiếng nhất của mục sư Jonathan Edwards (1703-1758). Ông giảng bài này ở Enfield, Connecticut [Mỹ] vào năm 1741.’

“Their foot shall slide in due time.” Deut. 32:35

“…Vào lúc chân của chúng nó trượt ngã….” Phục Truyền Luật Lệ Ký 32:35

  • ‘It implies, that they were always exposed to sudden unexpected destruction. As he that walks in slippery places is every moment liable to fall, he cannot foresee one moment whether he shall stand or fall the next; and when he does fall, he falls at once without warning: Which is also expressed in Psalm 73:18-19. “Surely thou didst set them in slippery places; thou castedst them down into destruction: How are they brought into desolation as in a moment!”’
  • ‘Điều này cũng ám chỉ là sự hủy diệt có thể phủ chụp lên đầu họ bất cứ lúc nào. Như một người lảo đảo bước đi trên chỗ trơn trợt, người ấy không thể biết rằng với bước kế tiếp mình còn đứng được hay sẽ té ngã; và nếu bị ngã, người ấy sẽ ngã nhào ngay tức khắc mà không có một dấu hiệu nào báo trước. Điều này được miêu tả trong Thi Thiên 73: 18-19: “Thật vậy, Chúa đã đặt chúng nó tại nơi trơn trợt, Khiến cho chúng nó bị hư nát. Ủa kìa, chúng nó bị hủy diệt trong một lát….”’

Read the whole thing here (Việt và Anh)

(See other Vietnamese and English articles at GSiV: Missions and Evangelism)

Church: A Close Brotherly Community

Here are a few good words from a wise man. How to create that brotherly close community in the church:

  • ‘One, “Outdo one another in showing honor” (Rom. 12:10)….’
  • ‘Two, “Bear with one another” (Col. 3:13)….’
  • ‘Three, “Let no corrupting talk come out of your mouths but only such as is good for building up” (Eph. 4:29)….’

-Ray Ortlund, Jr.

Read the whole article.

(GSiV: A Mindset All Reformed Folks Need; Unity)

‘Giáo Luật của Dordt (Dort)’ Là Gì?–part 6

Canons of Dordt (Dort)

The Canons of Dort (Rules or Guidelines of Dordt) come from an international council (synod / Hội Nghị) of Reformed people which took place in the city of Dordrecht (Dordtrecht), Netherlands in 1618-1619.

Giáo Điều Phần Thứ I

Sự Lựa Chọn Thiên Thượng và Sự Hư Mất

  • Điều 6: Tình trạng một số người nhận được đức tin do sự ban cho của Đức Chúa Trời, còn những người khác không nhận được đức tin đó đã bắt nguồn từ ý chỉ đời đời của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời “Từ trước vô cùng Ngài đã thông biết việc đó” (Công-vụ 15:18) Đấng làm mọi sự hợp ý muốn của Ngài (Ê-phê-sô 1:11). Chính bởi quyết định riêng của Ngài mà Chúa làm mềm lòng những kẻ Ngài chọn lựa; dù cho họ có cứng cỏi đến bực nào Ngài cũng khiến cho họ tin theo. Trong khi ấy thì Chúa phó những kẻ không được lựa chọn vào sự phán xét công bình của Ngài, theo như sự gian ác và cứng đầu của họ. Ở đây chúng ta không thấy bày tỏ sự phân biệt sâu xa, đầy thương xót và công bình giữa những người cùng ở trong một tình trạng hư hoại. Chính luật về sự lựa chọn và hư mất đã được bày tỏ ra trong lời của Đức Chúa Trời đã mạng lại niềm an ủi khôn tả cho những linh hồn thánh thiện và tin kính. Còn những người bại hoại, bất khiết và tâm trí không vững vàng thì tự chuốc lấy sự diệt vong.
  • [God’s Eternal Decree] The fact that some receive from God the gift of faith within time, and that others do not, stems from his eternal decree. For “all his works are known to God from eternity” (Acts 15:18; Eph. 1:11). In accordance with this decree God graciously softens the hearts, however hard, of the elect and inclines them to believe, but by a just judgment God leaves in their wickedness and hardness of heart those who have not been chosen. And in this especially is disclosed to us God’s act—unfathomable, and as merciful as it is just—of distinguishing between people equally lost. This is the well-known decree of election and reprobation revealed in God’s Word. The wicked, impure, and unstable distort this decree to their own ruin, but it provides holy and godly souls with comfort beyond words.

Full document in Vietnamese here.

See GSiV Resources page

(Also see here

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi: Tín Lý Về Ân Điển Quyền Năng

at GSiV)