Traits of a Humble Leader

Below are just some of the good traits that Mr. Lee discusses about humility:

  1. Humble leaders tend to share their resources, whether in want or in plenty. Arrogant leaders tend to hoard their resources, unwilling to share unless they get something in return.
  2. Humble leaders tend to be bridge-builders, refusing to demonize or neglect the “other.” Arrogant leaders tend to work alone, refusing to partner with others—especially those who hold differing views.
  3. Humble leaders tend to ignore gossip, being wise enough to know there’s always another side to the story. Arrogant leaders tend to spread and entertain gossip, always wanting to hear the worst of others to make themselves feel better.
  4. Humble leaders tend to be king-makers, without clamoring to be kings themselves. Arrogant leaders tend to be attention-seekers, preferring to burn bridges or arrive with guns blazing if they don’t get their way.
  5. Humble leaders tend to celebrate others’ accomplishments and not their own. Arrogant leaders tend to disregard other people’s accomplishments if it doesn’t serve their agenda.
  6. Humble leaders tend to give the benefit of the doubt…

Moses Y. Lee 

Read the whole thing here

(GSiV: A Mindset All Reformed Folks Need; Ray Ortlund ; Humility; Gospel Grace Versus Dead Religion–part 5)

Rèn Luyện Tâm Linh Trong Nếp Sống Cơ Đốc của Ông Whitney

‘Thế nên, các cách rèn luyện tâm linh là những hoạt động cá nhân và giữa cá nhân với nhau được Đức Chúa Trời đưa ra trong Kinh Thánh như những phương tiện có thẩm quyền đủ, mà những người tin theo Chúa Giê-xu Christ phải áp dụng trong việc đeo đuổi sự tin kính theo đúng Phúc âm và đầy dẫy Đức Thánh Linh, tức là gần gũi với Đấng Christ và giống Đấng Christ.’

-Donald S. Whitney, Rèn Luyện Tâm Linh Trong Nếp Sống Cơ Đốc, Văn Phẩm Hạt Giống, (Viet version 2018), tr. 20. Spiritual Disciplines for the Christian Life, NavPress, Colorado Springs, 2014 [1991], p. 9.

(GSiV: Ân điển, chứ không phải những quy tắc / Grace not rules)

Interpreting impressions like “God told me…”

In Mr. Elliff’s helpful little book, Led by the Spirit: How the Holy Spirit guides the believer (page 36) we find many passages that clarify how to use (and not mis-use) God’s Word appropriately.

“Christians should be very humble about this matter of hearing God’s voice. If, in some unusual manners, the Spirit gives a direct impression, we should say, ‘I believe that God is speaking to me in a special inner way about all of this, but I must test this out carefully by other means to know for sure.’

“Unfortunately, there are some Christian groups which do not allow for humility or tentativeness in this area. They say that true faith is known by the bold declaration of the impression you have been given. Thus the one speaking runs the danger of declaring what God has not said, which is strictly prohibited in Deuteronomy 18:20. I find this a sad bondage. I am certain that some express themselves so forthrightly about their revelations so as to help convince themselves that what they think they heard is actually so. Nonetheless, it is not safe, especially when it concerns directions for others’ lives.”

-Jim Elliff

(GSiV: Is “Being Slain in the Spirit” biblical? ; Prosperity Gospel? ; A Mindset All Reformed Folks Need)

Five more points for Calvinists: “Doctrines of Graciousness”

Here’s an article (on a different kind of ‘TULIP’) that can apply to many of our lives right away:

T — Total Humility

“God opposes the proud but gives grace to the humble.” (James 4:6; 1 Peter 5:5)

U — Unconditional Kindness

Be kind to one another, tenderhearted, forgiving one another, as God in Christ forgave you. (Ephesians 4:32)

L — Limited Criticism

The Lord’s servant must not be quarrelsome but kind to everyone, . . . correcting his opponents with gentleness. (2 Timothy 2:24–25)

I — Irresistible Graciousness

Let your speech always be gracious. (Colossians 4:6)

P — Perseverance in Patience

Be patient with them all. (1 Thessalonians 5:14)

-David Mathis

Read the whole post here

(GSiV: A Mindset All Reformed Folks Need; Unity; Ray Ortlund; The other TULIP)

Humility is not…

‘1. Humility Isn’t Hiding.

‘2. Humility Isn’t Self-Hatred.

  • ‘Humility’s Acid Test
  • ‘Great Model of Humility

‘It’s the joy of thinking about yourself less, and about Jesus more.’

-Gavin Ortlund

Read the whole thing here

(GSiV: Humility; A Mindset All Reformed Folks Need; Unity)

Humility is the growing ability to…

‘Humility is the growing ability to see God as he really is and myself as I really am–and the first thing a person growing in humility sees and hates is their pride. This is the only kind of person motivated to pursue resources on humility.’

-William P. Farley

Read the whole thing here

(GSiV: Humility; A Mindset All Reformed Folks Need; Unity)

A lifetime message: the gospel for believers

‘If it’s true our relationship with God is based on his grace instead of our performance, why are we so prone to fall into good-day-bad-day thinking? It’s because we’ve relegated the gospel to the unbeliever.

Regardless of when you trusted Christ, the cross divides your life into two periods: “unbeliever” and believer.” What one word describes the Bible message you most needed to hear as an unbeliever? It’s the gospel, the power of God for salvation (Romans 1:16). And what one word describes the message we most need to hear as believers? I get many different answers to that question, but most can be summed up with the word discipleship–demands and duties such as the spiritual disciplines, holiness, and service.

I don’t question our emphasis on discipleship. Jesus did say, “Go therefore and make disciples” (Matthew 28:19). If anything, we need more challenging instruction on this. But there’s something more basic than discipleship, something that provides the necessary atmosphere in which discipleship can be practiced–the gospel.

We need to continue to hear the gospel every day of our Christian lives. Only a continuous reminder of God’s grace through Christ will keep us from falling into good-day-bad-day thinking, where we view our daily relationship with God as based on how good we’ve been.’

Jerry Bridges, Holiness Day by Day, Week 3 / Friday

(GSiV: Performance; Jerry Bridges; Earning vs effort: grace, justification, and sanctification)

Ân Điển của Chúa: Sự chọn lựa, Sự tiền định, và Sự biết trước

‘Theo Kinh Thánh, sự tiền định được giới hạn cho một số người được chọn, và sự tiền định bảo đảm cho địa vị hiện tại và số phận tương lai của họ. Về mặt thần học, thuật ngữ nầy đã được dùng để bao gồm tất cả mọi sự, có nghĩa là được dùng như một từ đồng nghĩa với kế hoạch toàn diện của Đức Chúa Trời. Từ định nghĩa về thần học nầy, thật dễ cho một số hình thức của thuyết Calvin dùng sự tiền định cho số phận của người không được chọn lựa. Vì thế đã xuất hiện giáo lý tiền định kép. Tuy nhiên, đây là một giả định về mặt lý luận, chứ không căn cứ trên các phân đoạn Kinh Thánh. Kinh Thánh nói rõ người được chọn thì được tiền định, nhưng không bao giờ gợi ý có một nguyên chỉ tương tự để chọn một số người cho bị định tội. Kinh Thánh dường như muốn để vấn đề ấy lại thành lẽ mầu nhiệm, và chúng ta cũng nên làm giống như thế.

‘3. Sự biết trước. Chữ proginoskô được dùng (a) để chỉ về sự hiểu biết từ trước trong trần thế nầy (Công vụ 26:5; 2 Phi-e-rơ 3:17); (b) chỉ về mối quan hệ của Đức Chúa Trời với Ysơraên (Rô-ma 11:2); và (c) chỉ về sự hy sinh của Đấng Christ (Công vụ 2:23; 1 Phi-e-rơ 1:20); và (d) chỉ về dân sự của Đức Chúa Trời ngày nay (Rô-ma 8:29; 1 Phi-e-rơ 1:2).

‘Cuộc tranh luận tập trung quanh vấn nạn: Có tồn tại mối tương quan đến mức nào trong chữ “sự biết trước.” Có phải chữ nầy chỉ đơn thuần nói Đức Chúa Trời biết trước theo ý nghĩa là biết trước mà không có một mối tương quan nào cả? Hoặc một biến thể của ý nầy: Có phải chữ nầy nói Ngài đã nhìn thấy trước về đức tin chứ không thấy trước về con người? Hoặc như thần học Calvin: Có phải Ngài đã liên hệ Ngài với con người từ trước cõi thời gian bằng cách nào đó, để rồi có một mối liên kết nhân quả khiến cho “biết trước” trên thực tế tương đương với “tiền định” hay “chỉ định trước”? Rõ ràng điều được biết trước chính là con người, chứ không phải đức tin của họ (Rô-ma 8:28-29). Cũng rõ ràng, sự biết trước như một nhận thức đơn thuần thì sự biết trước ấy không phải là cơ sở của sự chọn lựa, vì 1 Phi-e-rơ 1:2 bao gồm cả sự quyết định về phần Đức Chúa Trời nữa. Sự chọn lựa phù hợp với (kata) sự biết trước, và sự biết trước đó đã bao gồm cả thủ tục được dùng để tiến hành sự chọn lựa. Do vậy, có mối tương quan nào đó và/hoặc một quyết định nào đó vốn có sẵn trong ý nghĩa của việc biết trước. Chắc chắn câu 20 [1 Phi-e-rơ 1:20] bao gồm cả những ý tưởng đó, bằng không thì sẽ không bảo đảm được điều gì về sự hy sinh của Đấng Christ. Tương tự, có tính quyết định dứt khoát và tính biết chắc chắn trong Công vụ 2:23 và Rô-ma 11:2. Cách dùng chữ nầy trong Ngụy Kinh cũng bao gồm tính biết chắc chắn: “Và Sự đoán xét của Ngài ở trong sự biết trước của Ngài” (Judith 9:6). Đúng là chữ nầy không nói “chọn,”nhưng cũng không thể bị giảm xuống thành một khái niệm trung tính chỉ về riêng một mình sự nhận thức. Nó thực sự bao gồm sự quyết định, rồi đến lượt sự quyết định phải bao gồm cả sự bảo đảm xuất phát từ sự biết chắc chắn.’

-Charles Ryrie, Thần Học Căn Bản, tr. 383-384.

Read the whole thing here

[While we strongly disagree with Mr. Ryrie on his views of “non-lordship,” we think he has some valuable insight here regarding election. (For a biblical view of “Lordship” read this.)]

(GSiV: Election & Evangelism and Calvinism; Calvin on Election and Predestination)

The Cambridge Declaration: Scripture alone and Inerrancy

Luận Đề Thứ Nhất, “Sola Scriptura”, Tức Là “Chỉ Duy Nhất Kinh Thánh”…

Chúng ta tái khẳng định rằng Kinh Thánh là nguốn khải thị thành văn duy nhất của Đức Chúa Trời và vì thế chỉ duy nhất Kinh Thánh là có thẩm quyền trên lương tâm. Chỉ duy nhất Kinh Thánh dạy cho chúng ta những điều cần phải biết về sự cứu rỗi và về tiêu chuẩn mà mọi hành vi Cơ Đốc phải tuân theo.

Chúng ta phủ nhận mọi sự ràng buộc của tín điều trên đời sống của Cơ Đốc Nhân – bất kể là từ cá nhân hay Giáo Hội nào – và chúng ta không cho rằng Đức Thánh Linh có thể phán cách tách rời hay ngược lại các sự dạy dỗ của Kinh Thánh, và chúng ta cũng không cho rằng kinh nghiệm thuộc linh của cá nhân – bất kể là ai – là một kênh dẫn của sự khải thị Thiên Thượng.

Mục đích của việc nhấn mạnh “Chỉ Duy Nhất Đức Chúa Jêsus” là để giữ cho Đức Tin Trong Và Qua Đức Chúa Jêsus khỏi sự xói mòn.

Hễ khi nào niềm tin Cơ Đốc bị thế tục hóa thì các trọng điểm của Tin Lành sẽ bị phai mờ vì văn hóa của đời này. Hậu quả của việc này là tính tuyệt đối của lẽ thật không còn, chủ nghĩa cá nhân được dung túng, đời sống thánh khiết bị mất tính ưu tiên, trực giác được nâng bậc thay cho lẽ thật, cảm xúc thế chỗ cho đức tin, và cuộc theo Chúa của một người được xem như một sự kiện nhất tác, vạn thành. Nói chung, hễ khi nào niềm tin Cơ Đốc bị thế tục hóa thì chính Đức Chúa Jêsus và Thập Tự Giá của Ngài không còn đứng tại tâm điểm của Tin Lành Ngài nữa.

-Tuyên Xưng Đức Tin Cambridge

Read the whole thing here

(GSiV: 5 Onlys; Inerrancy; Philadelphia Baptist Confession of Faith–part 2)

Inerrancy and Missions

  1. Missionaries can’t distinguish Christianity without an inerrant Bible.
  2. Missionaries can’t establish and maintain healthy churches without an inerrant Bible.
  3. Missionaries can’t train indigenous pastors without an inerrant Bible.


  • ‘Evangelical inerrantists have labored for decades to uphold the simple axiom that Scripture is entirely true and without any formal error or contradiction. But here’s the stark reality for us as we consider the task of the Great Commission: If we lose inerrancy, we lose global missions. How can I make such a statement? Consider these three reasons.’
  • ‘Without inerrancy, the Bible is all diversity and no unity, and the idea of a cogent systematic theology becomes elusive if not impossible.’
  • ‘The Bible is breathed out by our holy God (2 Tim. 3:16), and therefore true (Ps. 19:9; Prov. 30:5), pure (Pss. 12:6; 19:8), complete (Deut. 4:2; 12:32; Prov. 30:6; Rev. 22:18–19), perfect (Ps. 19:7a), sure (Ps. 19:7b), enduring (Isa. 40:8; Matt. 5:18; Luke 16:17), and trustworthy (2 Pet. 1:19).’

Derek J. Brown

Read the whole article here

(GSiV: Missions and Evangelism;

A Few Confessions of Faith in Vietnamese)

 ‘Giáo Luật của Dordt (Dort)’ Là Gì?–part 12

Canons of Dordt (Dort)

The Canons of Dort (Rules or Guidelines of Dordt) come from an international council (synod / Hội Nghị) of Reformed people which took place in the city of Dordrecht (Dordtrecht), Netherlands in 1618-1619.

Giáo Điều Phần Thứ I

Sự Lựa Chọn Thiên Thượng và Sự Hư Mất

Điều 12: Vào đúng kì hạn nào đó, dù rằng ở những mức độ khác nhau và trong những số lượng khác biệt, những người được lựa chọn sẽ đạt tới sự biết chắc chắn về sự lựa chọn đời đời và bất biến này, chẳng phải bằng cách tò mò tìm hiểu các sự bí mật và sâu nhiệm của Đức Chúa Trời, nhưng bằng chính việc quan sát trong lòng họ, với một niềm vui thuộc linh và sự khoan khoái thánh thiện, để thấy được những bông trái chắc chắn của sự lựa chọn này, như đã bày tỏ trong lời của Đức Chúa Trời. Chẳn hạn nhờ đức tin chân thật nơi Đức Chúa Giê-xu Christ, sự hiếu kính, nỗi đau buồn của một tâm hồn mộ đạo đối với tội lỗi; lòng đói khát sự công bình v.v…

Full document in Vietnamese here.

See GSiV Resources page

(Also see here

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi: Tín Lý Về Ân Điển Quyền Năng

at GSiV)

Not on probation as performers

‘Why is it that every time we feel a little disconnected from you [God], or hear the condemning voice of the enemy; or encounter other believers more zealous, missionaries more generous, or young converts more committed than us–why is it that our first default mode is to lace up our running shoes and get busy for you?

‘Instead of running to you for grace, we start running to do something to “make you happy,” or make us feel better about ourselves. But we’re not on probation as performers; we’re in Christ as your beloved.’

-Scotty Smith

Read the whole thing here

(GSiV: Ân điển, chứ không phải những quy tắc / Grace not rules; Scotty Smith)