QUYỀN NĂNG CAO CẢ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI Ở VIỆT NAM (Ê-phê 1:4-5)

Công đức so với nổ lực: ân điển, sự xưng nghĩa, và sự thánh hóa

Là Cơ Đốc Nhân, chúng ta biết mình có những trách nhiệm — yêu Chúa, yêu nhau, chăm sóc người góa bụa và trẻ mồ côi, tha thứ cho kẻ thù mình, chia sẻ phúc âm của Đấng Christ, môn đồ hóa, vv. Nhưng khi chúng ta đặt nổ lực vào đời sống Cơ Đốc để tăng trưởng (nên thánh), chúng ta vẫn nên hiểu rằng mình có được nổ lực chỉ vì ân điển của Chúa (xưng nghĩa). Nếu Đức Chúa Trời không cứu chúng ta thì chúng ta vẫn chết mất trong tội lỗi.

Phân biệt được “công đức” và “nổ lực” là một việc có ích. Là Cơ Đốc Nhân, chúng ta không nên bận rộn chỉ vì đó là nhiệm vụ của mình, cố gắng “đạt lấy” một cái gì đó từ Đức Chúa Trời. Ngược lại chúng ta làm tròn nhiệm vụ của mình một cách vui mừng bởi Thần Linh Ngài và đặt “nổ lực” để tăng trưởng vì chúng ta đã biết Ngài. Chúng ta đã hiểu điều này chưa? Bởi vì chúng ta là Cơ Đốc Nhân, chúng ta đã biết Ngài rồi. Như sứ đồ Phao-lô nói, “Nguyền xin chính Đức Chúa Trời bình an khiến anh em nên thánh trọn vẹn, và nguyền xin tâm thần, linh hồn, và thân thể của anh em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được, khi Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta đến! Đấng đã gọi anh em là thành tín, chính Ngài sẽ làm việc đó” (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:23-24). Sự thành tín của Đức Chúa Trời trong đời sống chúng ta sẽ đảm bảo chúng ta có những việc lành. Dù sao nữa chúng ta sẽ đặt nổ lực thực hiện việc lành.

Chúng ta có thể làm việc lành vì Đức Chúa Trời đã hành động trong chúng ta — và đang hành động trong chúng ta. Phi-líp 2:12-13 nói rõ rằng, “Ấy vậy, hỡi những kẻ rất yêu dấu của tôi, như anh em đã vâng lời luôn luôn, chẳng những khi tôi có mặt mà thôi, lại bây giờ là lúc tôi vắng mặt, hãy cùng hơn nữa, mà lấy lòng sợ sệt run rẩy làm nên sự cứu chuộc mình. Vì ấy chính Đức Chúa Trời cảm động lòng anh em vừa muốn vừa làm theo ý tốt Ngài.” Chúng ta có thể làm việc lành Đức Chúa Trời sống trong chúng ta và đang hành động qua chúng ta.

Nói tóm lại:

  • Người không tin Chúa không thể đạt lấy sự cứu chuộc từ Đức Chúa Trời. Sự cứu rỗi là hoàn toàn bởi ân điển.
  • Cơ Đốc Nhân không thể đạt lấy mối liên hệ với Đức Chúa Trời. Mối liên hệ dài lâu này hoàn toàn bởi ân điển.
  • Cơ Đốc Nhân có thể và nên đặt nổ lực để tăng trưởng trong sự thánh khiết. Sự thánh khiết (nên thánh) hoàn toàn bởi ân điển nhưng chúng ta đặt nổ lực để lớn lên.

Có phải bạn sống phần lớn là vì nhiệm vụ tín ngưỡng, nghiêm ngặt và khắc khe, cố gắng tuyệt vọng đạt lấy một thứ gì đó từ Đức Chúa Trời? Hay là, bạn tuân phục (đặt nổ lực) vì sự thỏa lòng và vui mừng từ mối quan hệ với Đấng Christ?

Earning vs effort: grace, justification, and sanctification

Ân điển, chứ không phải những quy tắc / Grace not rules

‘Giáo Luật của Dordt (Dort)’ Là Gì?–part 7

Canons of Dordt (Dort)

The Canons of Dort (Rules or Guidelines of Dordt) come from an international council (synod / Hội Nghị) of Reformed people which took place in the city of Dordrecht (Dordtrecht), Netherlands in 1618-1619.

Giáo Điều Phần Thứ I

Sự Lựa Chọn Thiên Thượng và Sự Hư Mất

  • Điều 7: Sự lựa chọn là một mục đích không thay đổi của Đức Chúa Trời. Trước khi tạo dựng nên thế gian, bởi ân điển và ý chí của Ngài, Chúa đã lựa chọn trong đám thế nhân lầm lạc và hư hoại một số người để được cứu chuộc trong Đức Chúa Giê-xu Christ là Đấng mà Đức Chúa Trời đã chỉ định làm Đấng Trung Bảo, và đứng đầu những kẻ được chọn và làm nền tảng cho sự cứu rỗi.
  • Dù những người này không tốt đẹp hay xứng đáng gì hơn những người khác, tất cả cùng mang chung một nỗi khốn khổ. Đức Chúa Trời vẫn ban cho họ sự cứu rỗi trong Đức Chúa Giê-xu Christ, và cho họ được thông công với Ngài qua lời Chúa và Thánh linh của Ngài.
  • Ngài ban đức tin thật cho họ xưng công bình và thánh hóa họ, giữ gìn họ trong sự thông công với Ngài và cuối cùng cho họ được vinh hiển để bày tỏ ơn thương xót của Ngài, để ca ngợi sự giàu có của ân điển vinh quang của Ngài, như có chép rằng: “Trước khi sáng thế Ngài đã chọn chúng ta trong Đức Chúa Giê-xu Christ, đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời, bởi sự thương yêu của Ngài đã định trước cho chúng ta được trở nên con nuôi của Ngài, bởi Đức Chúa Giê-xu Christ, theo ý tốt của Ngài, để khen ngợi sự vinh hiển của ân điển Ngài đã ban cho chúng ta cách nhưng không trong con yêu dấu của Ngài” (Ê-phê-sô 1:4-6). “Còn những kẻ Ngài đã định sẵn thì Ngài đã gọi, những kẻ Ngài đã gọi, thì ngài cũng đã xưng là công bình và những kẻ Ngài đã xưng công bình thì Ngài cũng đã làm cho vinh hiển” (Rô-ma 8:30).
  • [Election] Election is God’s unchangeable purpose by which he did the following: Before the foundation of the world, by sheer grace, according to the free good pleasure of his will, God chose in Christ to salvation a definite number of particular people out of the entire human race, which had fallen by its own fault from its original innocence into sin and ruin. Those chosen were neither better nor more deserving than the others, but lay with them in the common misery. God did this in Christ, whom he also appointed from eternity to be the mediator, the head of all those chosen, and the foundation of their salvation.
  • And so God decreed to give to Christ those chosen for salvation, and to call and draw them effectively into Christ’s fellowship through the Word and Spirit. In other words, God decreed to grant them true faith in Christ, to justify them, to sanctify them, and finally, after powerfully preserving them in the fellowship of the Son, to glorify them.
  • God did all this in order to demonstrate his mercy, to the praise of the riches of God’s glorious grace. As Scripture says, “God chose us in Christ, before the foundation of the world, so that we should be holy and blameless before him with love; he predestined us whom he adopted as his children through Jesus Christ, in himself, according to the good pleasure of his will, to the praise of his glorious grace, by which he freely made us pleasing to himself in his beloved” (Eph. 1:4-6). And elsewhere, “Those whom he predestined, he also called; and those whom he called, he also justified; and those whom he justified, he also glorified” (Rom. 8:30).

Full document in Vietnamese here.

See GSiV Resources page

(Also see here

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi: Tín Lý Về Ân Điển Quyền Năng

at GSiV)

Sinners in Hands of an Angry God (Việt-Eng)

Tội Nhân Trong Tay Thiên Chúa Đang Thịnh Nộ

‘This transcript is the most well-known sermon of pastor Jonathan Edwards (1703-1758). He preached this sermon in Enfield, Connecticut [USA] in 1741.’

‘Bài giảng này là bài giảng nổi tiếng nhất của mục sư Jonathan Edwards (1703-1758). Ông giảng bài này ở Enfield, Connecticut [Mỹ] vào năm 1741.’

“Their foot shall slide in due time.” Deut. 32:35

“…Vào lúc chân của chúng nó trượt ngã….” Phục Truyền Luật Lệ Ký 32:35

  • ‘It implies, that they were always exposed to sudden unexpected destruction. As he that walks in slippery places is every moment liable to fall, he cannot foresee one moment whether he shall stand or fall the next; and when he does fall, he falls at once without warning: Which is also expressed in Psalm 73:18-19. “Surely thou didst set them in slippery places; thou castedst them down into destruction: How are they brought into desolation as in a moment!”’
  • ‘Điều này cũng ám chỉ là sự hủy diệt có thể phủ chụp lên đầu họ bất cứ lúc nào. Như một người lảo đảo bước đi trên chỗ trơn trợt, người ấy không thể biết rằng với bước kế tiếp mình còn đứng được hay sẽ té ngã; và nếu bị ngã, người ấy sẽ ngã nhào ngay tức khắc mà không có một dấu hiệu nào báo trước. Điều này được miêu tả trong Thi Thiên 73: 18-19: “Thật vậy, Chúa đã đặt chúng nó tại nơi trơn trợt, Khiến cho chúng nó bị hư nát. Ủa kìa, chúng nó bị hủy diệt trong một lát….”’

Read the whole thing here (Việt và Anh)

(See other Vietnamese and English articles at GSiV: Missions and Evangelism)

‘Giáo Luật của Dordt (Dort)’ Là Gì?–part 6

Canons of Dordt (Dort)

The Canons of Dort (Rules or Guidelines of Dordt) come from an international council (synod / Hội Nghị) of Reformed people which took place in the city of Dordrecht (Dordtrecht), Netherlands in 1618-1619.

Giáo Điều Phần Thứ I

Sự Lựa Chọn Thiên Thượng và Sự Hư Mất

  • Điều 6: Tình trạng một số người nhận được đức tin do sự ban cho của Đức Chúa Trời, còn những người khác không nhận được đức tin đó đã bắt nguồn từ ý chỉ đời đời của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời “Từ trước vô cùng Ngài đã thông biết việc đó” (Công-vụ 15:18) Đấng làm mọi sự hợp ý muốn của Ngài (Ê-phê-sô 1:11). Chính bởi quyết định riêng của Ngài mà Chúa làm mềm lòng những kẻ Ngài chọn lựa; dù cho họ có cứng cỏi đến bực nào Ngài cũng khiến cho họ tin theo. Trong khi ấy thì Chúa phó những kẻ không được lựa chọn vào sự phán xét công bình của Ngài, theo như sự gian ác và cứng đầu của họ. Ở đây chúng ta không thấy bày tỏ sự phân biệt sâu xa, đầy thương xót và công bình giữa những người cùng ở trong một tình trạng hư hoại. Chính luật về sự lựa chọn và hư mất đã được bày tỏ ra trong lời của Đức Chúa Trời đã mạng lại niềm an ủi khôn tả cho những linh hồn thánh thiện và tin kính. Còn những người bại hoại, bất khiết và tâm trí không vững vàng thì tự chuốc lấy sự diệt vong.
  • [God’s Eternal Decree] The fact that some receive from God the gift of faith within time, and that others do not, stems from his eternal decree. For “all his works are known to God from eternity” (Acts 15:18; Eph. 1:11). In accordance with this decree God graciously softens the hearts, however hard, of the elect and inclines them to believe, but by a just judgment God leaves in their wickedness and hardness of heart those who have not been chosen. And in this especially is disclosed to us God’s act—unfathomable, and as merciful as it is just—of distinguishing between people equally lost. This is the well-known decree of election and reprobation revealed in God’s Word. The wicked, impure, and unstable distort this decree to their own ruin, but it provides holy and godly souls with comfort beyond words.

Full document in Vietnamese here.

See GSiV Resources page

(Also see here

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi: Tín Lý Về Ân Điển Quyền Năng

at GSiV)

Differences between Calvinism and Arminianism?

Why can’t there be a mixing of the two views to produce what is sometimes called “Cal-minianism”?

  • ‘The gap between them at several points is wide and deep. It centers around the middle three points of the famous TULIP scheme: total depravity, unconditional election, limited atonement, irresistible grace, and perseverance of the saints. While Arminians accept divine election, they believe it is conditional. While they accept a form of limited atonement, they reject the idea that God sent Christ to die only for a portion of humanity. The atonement’s limited nature is grounded not in God’s intention but in human response. Only those who accept the grace of the cross are saved by God; those who reject it and seek salvation elsewhere fail to be included in it by their own choice, much to God’s dismay. While Arminians embrace the necessity of supernatural grace for salvation (as for any spiritual good, including the first stirring of the will toward God), they deny that God irresistibly bends human wills so that they are effectually saved apart from their own spontaneous (not autonomous) response.’

-Roger Olson, Arminian Theology: Myths and Realities, p. 63.

(Các Đoạn 39-42, 48-49 GSiV: Xem chi tiết)

(Election: Xem Chi Tiết)

Distinctives of ‘Lordship Salvation’

‘The gospel that Jesus proclaimed was a call to discipleship, a call to follow him in submissive obedience, not just a plea to make a decision or pray a prayer. Jesus’ message liberated people from the bondage of their sin while it confronted and condemned hypocrisy. It was an offer of eternal life and forgiveness for repentant sinners, but at the same time it was a rebuke to outwardly religious people whose lives were devoid of true righteousness. It put sinners on notice that they must turn from sin and embrace God’s righteousness….

 

First, Scripture teaches that the gospel calls sinners to faith joined in oneness with repentance (Acts 2:38; 17:30; 20:21; 2 Pet. 3:9)…. Second, Scripture teaches that salvation is all God’s work. Those who believe are saved utterly apart from any effort on their own (Titus 3:5)…. Third, Scripture teaches that the object of faith is Christ Himself, not a creed or a promise (John 3:16)…. Fourth, Scripture teaches that real faith inevitably produces a changed life (2 Cor. 5:17). Salvation includes a transformation of the inner person (Gal. 2:20)…. Fifth, Scripture teaches that God’s gift of eternal life includes all that pertains to life and godliness (2 Pet. 1:3; Rom. 8:32), not just a ticket to heaven…. Sixth, Scripture teaches that Jesus is Lord of all, and the faith He demands involves unconditional surrender (Rom. 6:17-18; 10:9-10)…. Seventh, Scripture teaches that those who truly believe will love Christ (1 Pet. 1:8-9; Rom. 8:28-30; 1 Cor. 16:22)…. Eighth, Scripture teaches that behavior is an important test of faith. Obedience is evidence that one’s faith is real (1 John 2:3)…. Ninth, Scripture teaches that genuine believers may stumble and fall, but they will persevere in the faith (1 Cor. 1:8)…. Most Christians recognize that these nine distinctives are not new or radical ideas. The preponderance of Bible-believing Christians over the centuries have held these to be basic tenets of orthodoxy….’

-Grace Community Church, Sun Valley, California

Read the whole thing here

(GSIV: Lordship, Earning vs effort: grace, justification, and sanctification)

Cuộc Cải Chánh Của Martin Luther–part 2

Martin Luther (1483-1546)

Đến ngày 17 tháng 4 năm 1521 (tại tỉnh Worms ở Đức Quốc):

‘Để mở đầu hội nghị, viên tư pháp của Giáo Hoàng đứng lên chỉ tay vào hơn 20 quyển sách của Martin Luther để trên bàn, rồi hỏi Martin Luther rằng: “Có phải ngươi là tác giả của các sách này không? Ngươi có bằng lòng thủ tiêu các quyển sách đó cùng các quan điểm chứa đựng trong các sách đó không?”

‘Martin Luther đứng lên giữa phòng hội dõng dạc công nhận ông là tác giả của các sách đó.

‘Rồi ông bình tĩnh đưa ra các lý do khiến ông không thể thủ tiêu các sách đó được vì nghĩ rằng ông không thể để cho Giáo Hoàng hay là các Giáo Hội Nghị có quyền xét đoán niềm tin của mình. Nếu ai muốn thay đổi quan điểm của ông thì phải chỉ cho ông biết điểm nào sách ông nói không đúng với Kinh Thánh….’

-Huongdiministries

 Xem thêm

 

(Resources in Vietnamese and English at GSiV:

Radical Reformation: Three groups,

Luther, Calvin, Farel, Reformation &

Năm Điều Duy Nhất Của Cuộc Cải Chánh (5 onlys, 5 solas))

Sanctification: Affirmations and Denials

When we say we believe in sanctification, what do we mean? What do we believe and reject? The following information from the PCA is helpful.

 

‘Article I – Legalism is a Real Problem

  • We affirm that legalism is a dangerous problem….

‘Article II – The Gospel and Total Depravity

  • We affirm that unregenerate man, being totally depraved, is unable….

‘Article III – The Gospel Includes Sanctification

  • We affirm that the gospel provides salvation for the whole man….

‘Article IV – Union with Christ and Sanctification

  • We affirm that both justification and sanctification are distinct….

‘Article V – Gratitude and Motivation

  • We affirm that gratitude for justification is a powerful….

‘Article VI-Good Works not Merit

  • We affirm that believers are not under the Law….

‘Article VII – Adoption and Sanctification 

  • We affirm that through the finished work of Christ believers are adopted….

‘Article VIII – Effort and Sanctification 

  • We affirm that God-glorifying, Christ-centered….

‘Article IX – Faith and Sanctification

  • We affirm that growth in the Christian life comes through faith….

‘Article X – Preaching the Imperatives

  • We affirm that faithful preaching of the Law for use in the Christian life….

‘Article XI – Sanctification and Assurance

  • We affirm that Christians gain assurance of salvation by cherishing the promise….

‘Article XII – Sanctification and Victory

  • We affirm that Christians can and should experience victories over sin….’

-Read it all here.

Earning vs effort: grace, justification, and sanctification

 

Ân điển, chứ không phải những quy tắc / Grace not rules

Randy Alcorn, Nguyên Tắc Hánh Khiết (The Purity Principle)

Sanctification according to the Philadelphia Confession 1742

Note how this classic confession gives clarity to the teaching of sanctification:

Chương 13

‘1. Những người đã được ở trong Đấng Christ là những người đã được kêu gọi, đã được tái sinh, đã được có một tấm lòng mới và ý chí mới nhờ sự chết và sự sống lại của Ngài; họ cũng đang được Đức Chúa Cha làm cho nên thánh cách cá nhân và thực sự nhờ cùng một sự chết và sự sống lại của Chúa Cứu Thế Jêsus bởi Lời Kinh Thánh và Đức Thánh Linh ở cùng trong thân thể và đời sống của họ; sự thống trị tuyệt đối của tội lỗi trên thân thể họ đã bị phá vỡ cùng với các sự tham dục khác nữa, và những sự tham dục ấy ngày càng được làm cho trở nên yếu dần, và cuối cùng sẽ bị triệt tiêu hẳn; đồng thời họ cũng ngày càng trở nên tích cực hơn, mạnh mẽ hơn trong nguồn các ân điển của Đức Chúa Trời để thực hành sự thánh khiết thật sự của Ngài là sự thánh khiết mà nếu ai không có được thì cũng sẽ không thấy được Đức Chúa Trời. (Công. 20:32; Rô. 6:5, 6; Gi. 17:17; Êph. 3:16, 17, 18, 19; 1Tê. 5:21, 22, 23; Rô. 6:14; Gal. 5:14, 24; Côl. 1:11; 2Cô. 7:1; Hê. 12:14)

‘2. Sự nên thánh này diễn ra trong mọi phần của một con người nhưng sẽ vẫn cứ chưa hoàn hảo một khi còn ở trong đời này; vẫn còn có các tàn dư của sự hư hoại trong các phần của con người họ khiến diễn ra một cuộc tranh chiến không hòa hoãn và không ngưng nghỉ trong đời sống họ vì sự mê tham của xác thịt luôn nghịch lại ý chỉ của Đức Thánh Linh, và ý chỉ của Đức Thánh Linh cũng nghịch lại sự mê tham của xác thịt. (1Tê. 5:23; Rô. 7:18, 23; Gal. 5:17; 1Phi. 2:11)

‘3. Trong cuộc tranh chiến ấy cho dầu có khi tàn dư của sự hư hoại thắng thế nhưng qua sự thêm sức cho họ nên thánh không ngừng bởi Đức Thánh Linh của Đấng Christ thì xu hướng tái sinh vẫn cứ thắng thế và cuối cùng sẽ toàn thắng; nhờ đó các thánh đồ cứ mãi mãi tăng trưởng trong ân điển theo sự thánh khiết hoàn hảo tỷ lệ thuận với sự kính sợ Đức Chúa Trời, họ sống đời sống về hướng Thiên Đàng trong sự vâng phục Cơ Đốc đối với mọi giới mạng của Đức Chúa Jêsus Christ, Đấng là Nguyên Thủ và cũng là Vua của họ, thể theo Lời Kinh Thánh. (Rô. 7:23; Rô. 6:14; Êph. 4:15,16; 2Cô. 3:18; 7:1)’

Tuyên Xưng Philadelphia (1742)

Chapter 13

1. They who are united to Christ, effectually called, and regenerated, having a new heart and a new spirit created in them, through the virtue of Christ’s death and resurrection; are also further sanctified, really and personally, through the same virtue, by His Word and Spirit dwelling in them; the dominion of the whole body of sin is destroyed, and the several lusts thereof, are more and more weakened and mortified; and they more and more quickened, and strengthened in all saving graces, to the practice of all true holiness, without which no man shall see the Lord.

‘2. This sanctification is throughout in the whole man, yet imperfect in this life; there abideth still some remnants of corruption in every part, whence ariseth a continual and irreconcilable war; the flesh lusting against the Spirit, and the Spirit against the flesh.

‘3. In which war, although the remaining corruption for a time may much prevail yet through the continual supply of strength from the sanctifying Spirit of Christ, the regenerate part doth overcome; and so the saints grow in grace, perfecting holiness in the fear of God pressing after an heavenly life, in evangelical obedience to all the commands which Christ, as Head and King, in His Word hath prescribed to them.’

Philadelphia Baptist Confession of Faith (1742)

Earning vs effort: grace, justification, and sanctification

Ân điển, chứ không phải những quy tắc / Grace not rules

Sanctification according to the BF&M 2000

Here’s how one popular confession defines sanctification:

 

‘Sanctification is the experience, beginning in regeneration, by which the believer is set apart to God’s purposes, and is enabled to progress toward moral and spiritual maturity through the presence and power of the Holy Spirit dwelling in him. Growth in grace should continue throughout the regenerate person’s life.’ (IV.C)

Baptist Faith and Message (2000)

 

‘Sự nên thánh là một từng trải bắt đầu bằng sự tái tạo, nhờ đó tín nhân được biệt riêng cho mục đích của Đức Chúa Trời, và được thêm sức để tấn tới trên con đường luân lý và trưởng thành tâm linh qua sự hiện diện cùng quyền năng của Đức Thánh Linh là Đấng ngự trong mỗi tín nhân. Việc tăng trưởng trong ân phúc cần được tiếp nối liên tục suốt cuộc đời của một người đã được tái tạo.’ (IV.C)

Đức Tin và Thông Điệp của Người Báp-tít (2000)

Earning vs effort: grace, justification, and sanctification

Ân điển, chứ không phải những quy tắc / Grace not rules

Earning versus effort: grace, justification, and sanctification

As Christians, we know we have responsibilities–love God, love one another, care for widows and orphans, forgive our enemies, share the gospel of Christ, make disciples, etc. But even as we put forth effort in the Christian life to grow (sanctification), we should still understand our effort as possible only because of the Lord’s grace (justification). Had God not saved us we would still be dead in sin.

It is helpful when we distinguish between “earning” and “effort.” As Christians, we should not be busy merely because it’s our duty, trying to “earn” something from God. Rather we are fulfilling our duty joyfully by his Spirit and putting forth “effort” to grow because we know him already. Did we get that? Because we, Christians, know him already. As the Apostle Paul says, “May God himself, the God of peace, sanctify you through and through. May your whole spirit, soul and body be kept blameless at the coming of our Lord Jesus Christ. The one who calls you is faithful and he will do it” (1 Thessalonians 5:23–24). The Lord’s faithfulness in our lives will guarantee we have good works. Nonetheless we will put forth effort to do good works.

We can do good works because God has worked in us–and is working in us. Philippians 2:12–13 says it clearly, “Therefore, my beloved, as you have always obeyed, so now, not only as in my presence but much more in my absence, work out your own salvation with fear and trembling, for it is God who works in you, both to will and to work for his good pleasure.” We can do our good works because God lives in us and is working through us.

Here’s a quick summary:

  • Non-Christians cannot earn their salvation from God. Salvation is all by grace.
  • Christians cannot earn their relationship with God. This on-going relationship is all by grace.
  • Christians can and should put forth effort to grow in holiness. Holiness (sanctification) is all by grace but we put forth effort to grow.

Do you primarily live out of religious duty, rigorous and hard, trying desperately to earn something from God? Or do you obey (put forth effort) out of delight and joy that comes from knowing Christ?

Công đức so với nổ lực: ân điển, sự xưng nghĩa, và sự thánh hóa

Là Cơ Đốc Nhân, chúng ta biết mình có những trách nhiệm — yêu Chúa, yêu nhau, chăm sóc người góa bụa và trẻ mồ côi, tha thứ cho kẻ thù mình, chia sẻ phúc âm của Đấng Christ, môn đồ hóa, vv. Nhưng khi chúng ta đặt nổ lực vào đời sống Cơ Đốc để tăng trưởng (nên thánh), chúng ta vẫn nên hiểu rằng mình có được nổ lực chỉ vì ân điển của Chúa (xưng nghĩa). Nếu Đức Chúa Trời không cứu chúng ta thì chúng ta vẫn chết mất trong tội lỗi.

Phân biệt được “công đức” và “nổ lực” là một việc có ích. Là Cơ Đốc Nhân, chúng ta không nên bận rộn chỉ vì đó là nhiệm vụ của mình, cố gắng “đạt lấy” một cái gì đó từ Đức Chúa Trời. Ngược lại chúng ta làm tròn nhiệm vụ của mình một cách vui mừng bởi Thần Linh Ngài và đặt “nổ lực” để tăng trưởng vì chúng ta đã biết Ngài. Chúng ta đã hiểu điều này chưa? Bởi vì chúng ta là Cơ Đốc Nhân, chúng ta đã biết Ngài rồi. Như sứ đồ Phao-lô nói, “Nguyền xin chính Đức Chúa Trời bình an khiến anh em nên thánh trọn vẹn, và nguyền xin tâm thần, linh hồn, và thân thể của anh em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được, khi Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta đến! Đấng đã gọi anh em là thành tín, chính Ngài sẽ làm việc đó” (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:23-24). Sự thành tín của Đức Chúa Trời trong đời sống chúng ta sẽ đảm bảo chúng ta có những việc lành. Dù sao nữa chúng ta sẽ đặt nổ lực thực hiện việc lành.

Chúng ta có thể làm việc lành vì Đức Chúa Trời đã hành động trong chúng ta — và đang hành động trong chúng ta. Phi-líp 2:12-13 nói rõ rằng, “Ấy vậy, hỡi những kẻ rất yêu dấu của tôi, như anh em đã vâng lời luôn luôn, chẳng những khi tôi có mặt mà thôi, lại bây giờ là lúc tôi vắng mặt, hãy cùng hơn nữa, mà lấy lòng sợ sệt run rẩy làm nên sự cứu chuộc mình. Vì ấy chính Đức Chúa Trời cảm động lòng anh em vừa muốn vừa làm theo ý tốt Ngài.” Chúng ta có thể làm việc lành Đức Chúa Trời sống trong chúng ta và đang hành động qua chúng ta.

Nói tóm lại:

  • Người không tin Chúa không thể đạt lấy sự cứu chuộc từ Đức Chúa Trời. Sự cứu rỗi là hoàn toàn bởi ân điển.
  • Cơ Đốc Nhân không thể đạt lấy mối liên hệ với Đức Chúa Trời. Mối liên hệ dài lâu này hoàn toàn bởi ân điển.
  • Cơ Đốc Nhân có thể và nên đặt nổ lực để tăng trưởng trong sự thánh khiết. Sự thánh khiết (nên thánh) hoàn toàn bởi ân điển nhưng chúng ta đặt nổ lực để lớn lên.

Có phải bạn sống phần lớn là vì nhiệm vụ tín ngưỡng, nghiêm ngặt và khắc khe, cố gắng tuyệt vọng đạt lấy một thứ gì đó từ Đức Chúa Trời? Hay là, bạn tuân phục (đặt nổ lực) vì sự thỏa lòng và vui mừng từ mối quan hệ với Đấng Christ?

Sanctification according to the Baptist Faith & Message 2000 (English and Tiếng Việt)

Sanctification according to the Philadelphia Baptist Confession 1742 (English and Tiếng Việt)

Sanctification: Affirmations and Denials–PCA: (English)

Đấng Christ làm Chúa (Christ is Lord / Lordship of Christ)

‘Giáo Luật của Dordt (Dort)’ Là Gì?–part 5

Canons of Dordt (Dort)

The Canons of Dort (Rules or Guidelines of Dordt) come from an international council (synod / Hội Nghị) of Reformed people which took place in the city of Dordrecht (Dordtrecht), Netherlands in 1618-1619.

Giáo Điều Phần Thứ I

Sự Lựa Chọn Thiên Thượng và Sự Hư Mất

Điều 5: Nguyên do của tội không tin và những tội khác bắt nguồn từ con người; còn đức tin nơi Đức Chúa Giê-xu Christ và sự cứu rỗi trong Ngài là tặng phẩm của Đức Chúa Trời ban cho, như có chép rằng: “Ấy là nhờ ân điển bởi đức tin mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời” (Ê-phê-sô 2:8). Bởi cớ Đức Chúa Giê-xu Christ, Ngài đã ban ơn cho anh em không những tin Đức Chúa Giê-xu Christ mà thôi v.v… (Phi-líp 1:29).

Full document in Vietnamese here.

See GSiV Resources page

(Also see here

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi: Tín Lý Về Ân Điển Quyền Năng

at GSiV)