QUYỀN NĂNG CAO CẢ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI Ở VIỆT NAM (Ê-phê 1:4-5)

‘Giáo Luật của Dordt (Dort)’ Là Gì?–part 10 Canons of Dordt (Dort)

The Canons of Dort (Rules or Guidelines of Dordt) come from an international council (synod / Hội Nghị) of Reformed people which took place in the city of Dordrecht (Dordtrecht), Netherlands in 1618-1619.

Giáo Điều Phần Thứ I

Sự Lựa Chọn Thiên Thượng và Sự Hư Mất

Điều 10: Việc Đức Chúa Trời đẹp lòng là nguyên do duy nhất đưa tới sự lựa chọn đầy ân điển này. Chẳng phải từ trong số những hành động và đức tính tốt lành của con người mà Chúa đã lựa chọn đức tính này hay hành động kia làm điều kiện để được cứu chuộc. Nhưng từ trong đám tội nhân đó, bởi sự đẹp lòng của Ngài, Chúa đã lựa chọn một số người để thuộc riêng về Ngài, như có chép rằng: “Vì khi hai con, chưa sanh ra, chưa làm điều chi lành hay dữ, v.v… thì có lời phán cho mẹ của hai con (tức là Rê-bê-ca) rằng: Đứa lớn sẽ làm tôi đứa nhỏ; như có chép rằng: “Ta yêu Gia-cốp và ghét Ê-sau” (Rô-ma 9:11-13). Phàm những kẻ đã được định sẵn cho sự sống đời đời, đều tin theo (Công-vụ 13:48).

Full document in Vietnamese here.

See GSiV Resources page

(Also see here

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi: Tín Lý Về Ân Điển Quyền Năng

at GSiV)

‘Giáo Luật của Dordt (Dort)’ Là Gì?–part 9

Canons of Dordt (Dort)

The Canons of Dort (Rules or Guidelines of Dordt) come from an international council (synod / Hội Nghị) of Reformed people which took place in the city of Dordrecht (Dordtrecht), Netherlands in 1618-1619.

Giáo Điều Phần Thứ I

Sự Lựa Chọn Thiên Thượng và Sự Hư Mất

Điều 9: Sự chọn lựa này không xây dựng trên đức tin được thấy trước và sự vâng phục theo đức tin, cũng chẳng bởi sự thánh thiện hay bất cứ phẩm chất học tính tình tốt lành nào nơi con người. Những cái đó không phải là nguyên do hoặc điều kiện tiên quyết mà sự lựa chọn này căn cứ theo. Nhưng loài người được lựa chọn để có đức tin, để vâng phục theo đức tin và để được sự thánh khiết v.v… do đó sự lựa chọn là nguồn của mọi điều tốt lành đã được dành sẵn, từ đó phát xuất ra đức tin, sự thánh khiết và những ân tứ khác của sự cứu rỗi. Cũng bởi đó mà có sự sống đời đời, cùng những bông trái và kết quả. Theo như lời chứng của vị Sứ Đồ, “Ngài đã chọn chúng ta” (không phải vì chúng ta xứng đáng, nhưng) “để chúng ta trở nên Thánh Khiết không chỗ trách được trước mặt Ngài trong tình yêu” (Ê-phê-sô 1:4).

Full document in Vietnamese here.

See GSiV Resources page

(Also see here

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi: Tín Lý Về Ân Điển Quyền Năng

at GSiV)

‘Giáo Luật của Dordt (Dort)’ Là Gì?–part 8

Canons of Dordt (Dort)

The Canons of Dort (Rules or Guidelines of Dordt) come from an international council (synod / Hội Nghị) of Reformed people which took place in the city of Dordrecht (Dordtrecht), Netherlands in 1618-1619.

Giáo Điều Phần Thứ I

Sự Lựa Chọn Thiên Thượng và Sự Hư Mất

Điều 8: Chẳng có những điều luật khác nhau về sự lựa chọn, nhưng chỉ có một điều luật liên quan đến cả những người sẽ được cứu, cả trong Cựu Ước lẫn Tân Ước. Bởi vì Thánh Kinh đã tuyên bố rằng: “Sự đẹp lòng mục đích là lời khuyên dạy thiên thượng cũng chỉ là một mà thôi,” theo đó Ngài đã lựa chọn chúng ta từ đời đời theo ân điển và sự vinh hiển của Ngài, để được cứu rỗi và biết đường đưa đến sự cứu rỗi, là con đường mà Ngài đã truyền cho chúng ta bước theo.

Full document in Vietnamese here.

See GSiV Resources page

(Also see here

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi: Tín Lý Về Ân Điển Quyền Năng

at GSiV)

Praying as a Calvinist

  • ‘When we understand Calvinism in our hearts, and not just our minds, we’ll find ourselves humbly drawing near the throne of grace in our times of need.’
  • ‘Real Calvinists pray for help in the pursuit of holiness.’
  • ‘Calvinism doesn’t render our prayers meaningless. On the contrary….’

-J.A. Medders

Read the whole thing here

(GSiV: Thế Nào Là Một Hội Thánh Khỏe Mạnh?; Prayer)

Prayer mirrors the gospel: Miller

‘Prayer mirrors the gospel. In the gospel, the Father takes as we are because of Jesus and gives us his gift of salvation. In prayer, the Father receives us as we are because of Jesus and gives us his gift of help. We look at the inadequacy of our praying and give up, thinking something is wrong with us. God looks at the adequacy of his Son and the delights in our sloppy, meandering prayers.’
-Paul Miller, A Praying Life loc 797-801.

(GSiV: Prayer; Ân điển, chứ không phải những quy tắc / Grace not rules;

Miller: Success, Failure, and Grace)

A wrong view of maturity: Miller

‘We tell ourselves, “Strong Christians pray a lot. If I were a stronger Christian, I’d pray more.” Strong Christians do pray more, but they pray more because they realize how weak they are. They don’t try to hide it from themselves. Weakness is the channel that allows them to access grace.’
-Paul Miller, A Praying Life, loc 797-801

(GSiV: Prayer; Ân điển, chứ không phải những quy tắc / Grace not rules;

Miller: Success, Failure, and Grace)

Công đức so với nổ lực: ân điển, sự xưng nghĩa, và sự thánh hóa

Là Cơ Đốc Nhân, chúng ta biết mình có những trách nhiệm — yêu Chúa, yêu nhau, chăm sóc người góa bụa và trẻ mồ côi, tha thứ cho kẻ thù mình, chia sẻ phúc âm của Đấng Christ, môn đồ hóa, vv. Nhưng khi chúng ta đặt nổ lực vào đời sống Cơ Đốc để tăng trưởng (nên thánh), chúng ta vẫn nên hiểu rằng mình có được nổ lực chỉ vì ân điển của Chúa (xưng nghĩa). Nếu Đức Chúa Trời không cứu chúng ta thì chúng ta vẫn chết mất trong tội lỗi.

Phân biệt được “công đức” và “nổ lực” là một việc có ích. Là Cơ Đốc Nhân, chúng ta không nên bận rộn chỉ vì đó là nhiệm vụ của mình, cố gắng “đạt lấy” một cái gì đó từ Đức Chúa Trời. Ngược lại chúng ta làm tròn nhiệm vụ của mình một cách vui mừng bởi Thần Linh Ngài và đặt “nổ lực” để tăng trưởng vì chúng ta đã biết Ngài. Chúng ta đã hiểu điều này chưa? Bởi vì chúng ta là Cơ Đốc Nhân, chúng ta đã biết Ngài rồi. Như sứ đồ Phao-lô nói, “Nguyền xin chính Đức Chúa Trời bình an khiến anh em nên thánh trọn vẹn, và nguyền xin tâm thần, linh hồn, và thân thể của anh em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được, khi Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta đến! Đấng đã gọi anh em là thành tín, chính Ngài sẽ làm việc đó” (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:23-24). Sự thành tín của Đức Chúa Trời trong đời sống chúng ta sẽ đảm bảo chúng ta có những việc lành. Dù sao nữa chúng ta sẽ đặt nổ lực thực hiện việc lành.

Chúng ta có thể làm việc lành vì Đức Chúa Trời đã hành động trong chúng ta — và đang hành động trong chúng ta. Phi-líp 2:12-13 nói rõ rằng, “Ấy vậy, hỡi những kẻ rất yêu dấu của tôi, như anh em đã vâng lời luôn luôn, chẳng những khi tôi có mặt mà thôi, lại bây giờ là lúc tôi vắng mặt, hãy cùng hơn nữa, mà lấy lòng sợ sệt run rẩy làm nên sự cứu chuộc mình. Vì ấy chính Đức Chúa Trời cảm động lòng anh em vừa muốn vừa làm theo ý tốt Ngài.” Chúng ta có thể làm việc lành Đức Chúa Trời sống trong chúng ta và đang hành động qua chúng ta.

Nói tóm lại:

  • Người không tin Chúa không thể đạt lấy sự cứu chuộc từ Đức Chúa Trời. Sự cứu rỗi là hoàn toàn bởi ân điển.
  • Cơ Đốc Nhân không thể đạt lấy mối liên hệ với Đức Chúa Trời. Mối liên hệ dài lâu này hoàn toàn bởi ân điển.
  • Cơ Đốc Nhân có thể và nên đặt nổ lực để tăng trưởng trong sự thánh khiết. Sự thánh khiết (nên thánh) hoàn toàn bởi ân điển nhưng chúng ta đặt nổ lực để lớn lên.

Có phải bạn sống phần lớn là vì nhiệm vụ tín ngưỡng, nghiêm ngặt và khắc khe, cố gắng tuyệt vọng đạt lấy một thứ gì đó từ Đức Chúa Trời? Hay là, bạn tuân phục (đặt nổ lực) vì sự thỏa lòng và vui mừng từ mối quan hệ với Đấng Christ?

Earning vs effort: grace, justification, and sanctification

Ân điển, chứ không phải những quy tắc / Grace not rules

‘Giáo Luật của Dordt (Dort)’ Là Gì?–part 7

Canons of Dordt (Dort)

The Canons of Dort (Rules or Guidelines of Dordt) come from an international council (synod / Hội Nghị) of Reformed people which took place in the city of Dordrecht (Dordtrecht), Netherlands in 1618-1619.

Giáo Điều Phần Thứ I

Sự Lựa Chọn Thiên Thượng và Sự Hư Mất

  • Điều 7: Sự lựa chọn là một mục đích không thay đổi của Đức Chúa Trời. Trước khi tạo dựng nên thế gian, bởi ân điển và ý chí của Ngài, Chúa đã lựa chọn trong đám thế nhân lầm lạc và hư hoại một số người để được cứu chuộc trong Đức Chúa Giê-xu Christ là Đấng mà Đức Chúa Trời đã chỉ định làm Đấng Trung Bảo, và đứng đầu những kẻ được chọn và làm nền tảng cho sự cứu rỗi.
  • Dù những người này không tốt đẹp hay xứng đáng gì hơn những người khác, tất cả cùng mang chung một nỗi khốn khổ. Đức Chúa Trời vẫn ban cho họ sự cứu rỗi trong Đức Chúa Giê-xu Christ, và cho họ được thông công với Ngài qua lời Chúa và Thánh linh của Ngài.
  • Ngài ban đức tin thật cho họ xưng công bình và thánh hóa họ, giữ gìn họ trong sự thông công với Ngài và cuối cùng cho họ được vinh hiển để bày tỏ ơn thương xót của Ngài, để ca ngợi sự giàu có của ân điển vinh quang của Ngài, như có chép rằng: “Trước khi sáng thế Ngài đã chọn chúng ta trong Đức Chúa Giê-xu Christ, đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời, bởi sự thương yêu của Ngài đã định trước cho chúng ta được trở nên con nuôi của Ngài, bởi Đức Chúa Giê-xu Christ, theo ý tốt của Ngài, để khen ngợi sự vinh hiển của ân điển Ngài đã ban cho chúng ta cách nhưng không trong con yêu dấu của Ngài” (Ê-phê-sô 1:4-6). “Còn những kẻ Ngài đã định sẵn thì Ngài đã gọi, những kẻ Ngài đã gọi, thì ngài cũng đã xưng là công bình và những kẻ Ngài đã xưng công bình thì Ngài cũng đã làm cho vinh hiển” (Rô-ma 8:30).
  • [Election] Election is God’s unchangeable purpose by which he did the following: Before the foundation of the world, by sheer grace, according to the free good pleasure of his will, God chose in Christ to salvation a definite number of particular people out of the entire human race, which had fallen by its own fault from its original innocence into sin and ruin. Those chosen were neither better nor more deserving than the others, but lay with them in the common misery. God did this in Christ, whom he also appointed from eternity to be the mediator, the head of all those chosen, and the foundation of their salvation.
  • And so God decreed to give to Christ those chosen for salvation, and to call and draw them effectively into Christ’s fellowship through the Word and Spirit. In other words, God decreed to grant them true faith in Christ, to justify them, to sanctify them, and finally, after powerfully preserving them in the fellowship of the Son, to glorify them.
  • God did all this in order to demonstrate his mercy, to the praise of the riches of God’s glorious grace. As Scripture says, “God chose us in Christ, before the foundation of the world, so that we should be holy and blameless before him with love; he predestined us whom he adopted as his children through Jesus Christ, in himself, according to the good pleasure of his will, to the praise of his glorious grace, by which he freely made us pleasing to himself in his beloved” (Eph. 1:4-6). And elsewhere, “Those whom he predestined, he also called; and those whom he called, he also justified; and those whom he justified, he also glorified” (Rom. 8:30).

Full document in Vietnamese here.

See GSiV Resources page

(Also see here

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi: Tín Lý Về Ân Điển Quyền Năng

at GSiV)

Sinners in Hands of an Angry God (Việt-Eng)

Tội Nhân Trong Tay Thiên Chúa Đang Thịnh Nộ

‘This transcript is the most well-known sermon of pastor Jonathan Edwards (1703-1758). He preached this sermon in Enfield, Connecticut [USA] in 1741.’

‘Bài giảng này là bài giảng nổi tiếng nhất của mục sư Jonathan Edwards (1703-1758). Ông giảng bài này ở Enfield, Connecticut [Mỹ] vào năm 1741.’

“Their foot shall slide in due time.” Deut. 32:35

“…Vào lúc chân của chúng nó trượt ngã….” Phục Truyền Luật Lệ Ký 32:35

  • ‘It implies, that they were always exposed to sudden unexpected destruction. As he that walks in slippery places is every moment liable to fall, he cannot foresee one moment whether he shall stand or fall the next; and when he does fall, he falls at once without warning: Which is also expressed in Psalm 73:18-19. “Surely thou didst set them in slippery places; thou castedst them down into destruction: How are they brought into desolation as in a moment!”’
  • ‘Điều này cũng ám chỉ là sự hủy diệt có thể phủ chụp lên đầu họ bất cứ lúc nào. Như một người lảo đảo bước đi trên chỗ trơn trợt, người ấy không thể biết rằng với bước kế tiếp mình còn đứng được hay sẽ té ngã; và nếu bị ngã, người ấy sẽ ngã nhào ngay tức khắc mà không có một dấu hiệu nào báo trước. Điều này được miêu tả trong Thi Thiên 73: 18-19: “Thật vậy, Chúa đã đặt chúng nó tại nơi trơn trợt, Khiến cho chúng nó bị hư nát. Ủa kìa, chúng nó bị hủy diệt trong một lát….”’

Read the whole thing here (Việt và Anh)

(See other Vietnamese and English articles at GSiV: Missions and Evangelism)

‘Giáo Luật của Dordt (Dort)’ Là Gì?–part 6

Canons of Dordt (Dort)

The Canons of Dort (Rules or Guidelines of Dordt) come from an international council (synod / Hội Nghị) of Reformed people which took place in the city of Dordrecht (Dordtrecht), Netherlands in 1618-1619.

Giáo Điều Phần Thứ I

Sự Lựa Chọn Thiên Thượng và Sự Hư Mất

  • Điều 6: Tình trạng một số người nhận được đức tin do sự ban cho của Đức Chúa Trời, còn những người khác không nhận được đức tin đó đã bắt nguồn từ ý chỉ đời đời của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời “Từ trước vô cùng Ngài đã thông biết việc đó” (Công-vụ 15:18) Đấng làm mọi sự hợp ý muốn của Ngài (Ê-phê-sô 1:11). Chính bởi quyết định riêng của Ngài mà Chúa làm mềm lòng những kẻ Ngài chọn lựa; dù cho họ có cứng cỏi đến bực nào Ngài cũng khiến cho họ tin theo. Trong khi ấy thì Chúa phó những kẻ không được lựa chọn vào sự phán xét công bình của Ngài, theo như sự gian ác và cứng đầu của họ. Ở đây chúng ta không thấy bày tỏ sự phân biệt sâu xa, đầy thương xót và công bình giữa những người cùng ở trong một tình trạng hư hoại. Chính luật về sự lựa chọn và hư mất đã được bày tỏ ra trong lời của Đức Chúa Trời đã mạng lại niềm an ủi khôn tả cho những linh hồn thánh thiện và tin kính. Còn những người bại hoại, bất khiết và tâm trí không vững vàng thì tự chuốc lấy sự diệt vong.
  • [God’s Eternal Decree] The fact that some receive from God the gift of faith within time, and that others do not, stems from his eternal decree. For “all his works are known to God from eternity” (Acts 15:18; Eph. 1:11). In accordance with this decree God graciously softens the hearts, however hard, of the elect and inclines them to believe, but by a just judgment God leaves in their wickedness and hardness of heart those who have not been chosen. And in this especially is disclosed to us God’s act—unfathomable, and as merciful as it is just—of distinguishing between people equally lost. This is the well-known decree of election and reprobation revealed in God’s Word. The wicked, impure, and unstable distort this decree to their own ruin, but it provides holy and godly souls with comfort beyond words.

Full document in Vietnamese here.

See GSiV Resources page

(Also see here

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi: Tín Lý Về Ân Điển Quyền Năng

at GSiV)

Differences between Calvinism and Arminianism?

Why can’t there be a mixing of the two views to produce what is sometimes called “Cal-minianism”?

  • ‘The gap between them at several points is wide and deep. It centers around the middle three points of the famous TULIP scheme: total depravity, unconditional election, limited atonement, irresistible grace, and perseverance of the saints. While Arminians accept divine election, they believe it is conditional. While they accept a form of limited atonement, they reject the idea that God sent Christ to die only for a portion of humanity. The atonement’s limited nature is grounded not in God’s intention but in human response. Only those who accept the grace of the cross are saved by God; those who reject it and seek salvation elsewhere fail to be included in it by their own choice, much to God’s dismay. While Arminians embrace the necessity of supernatural grace for salvation (as for any spiritual good, including the first stirring of the will toward God), they deny that God irresistibly bends human wills so that they are effectually saved apart from their own spontaneous (not autonomous) response.’

-Roger Olson, Arminian Theology: Myths and Realities, p. 63.

(Các Đoạn 39-42, 48-49 GSiV: Xem chi tiết)

(Election: Xem Chi Tiết)

Distinctives of ‘Lordship Salvation’

‘The gospel that Jesus proclaimed was a call to discipleship, a call to follow him in submissive obedience, not just a plea to make a decision or pray a prayer. Jesus’ message liberated people from the bondage of their sin while it confronted and condemned hypocrisy. It was an offer of eternal life and forgiveness for repentant sinners, but at the same time it was a rebuke to outwardly religious people whose lives were devoid of true righteousness. It put sinners on notice that they must turn from sin and embrace God’s righteousness….

 

First, Scripture teaches that the gospel calls sinners to faith joined in oneness with repentance (Acts 2:38; 17:30; 20:21; 2 Pet. 3:9)…. Second, Scripture teaches that salvation is all God’s work. Those who believe are saved utterly apart from any effort on their own (Titus 3:5)…. Third, Scripture teaches that the object of faith is Christ Himself, not a creed or a promise (John 3:16)…. Fourth, Scripture teaches that real faith inevitably produces a changed life (2 Cor. 5:17). Salvation includes a transformation of the inner person (Gal. 2:20)…. Fifth, Scripture teaches that God’s gift of eternal life includes all that pertains to life and godliness (2 Pet. 1:3; Rom. 8:32), not just a ticket to heaven…. Sixth, Scripture teaches that Jesus is Lord of all, and the faith He demands involves unconditional surrender (Rom. 6:17-18; 10:9-10)…. Seventh, Scripture teaches that those who truly believe will love Christ (1 Pet. 1:8-9; Rom. 8:28-30; 1 Cor. 16:22)…. Eighth, Scripture teaches that behavior is an important test of faith. Obedience is evidence that one’s faith is real (1 John 2:3)…. Ninth, Scripture teaches that genuine believers may stumble and fall, but they will persevere in the faith (1 Cor. 1:8)…. Most Christians recognize that these nine distinctives are not new or radical ideas. The preponderance of Bible-believing Christians over the centuries have held these to be basic tenets of orthodoxy….’

-Grace Community Church, Sun Valley, California

Read the whole thing here

(GSIV: Lordship, Earning vs effort: grace, justification, and sanctification)