QUYỀN NĂNG CAO CẢ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI Ở VIỆT NAM (Ê-phê 1:4-5)

“Monergism” Là Gì?

What is “Monergism”?

‘Monergism: thuyết duy thần tái sinh. Quan điểm cho rằng Đức Thánh Linh là tác nhân duy nhất tạo nên sự tái sinh trong Cơ Đốc nhân. Thuyết này đối lập với thuyết đồng tác (synergism) cho rằng quá trình tái sinh là sự phối hợp của cả Đức Chúa Trời và con người.’

  • Sổ tay Thuật Ngữ Thần Học Anh-Việt (Ấn bản thứ 2)

Monergistic: ‘có nghĩa là, bởi Đức Thánh Linh đang hành động chỉ một mình mà không có sự cho phép hoặc hỗ trợ con người….’

‘Sự tái sanh (sanh lại)–chúng ta thụ động (Đức Chúa Trời làm tất cả và không có sự hợp tác từ chúng ta).’

  • GSiV (đoạn 49, click)

 

 (Also see these links at GSiV)

Do the ‘elect’ choose to believe?

‘…Reformed Christians believe that men believe and choose. It is the order of events that is in dispute. Every Christian has chosen Christ, believed in Christ, embraced Christ, and even more, continues to do so. The question is not “must a person believe,” but can a person believe while a slave to sin? Further, whose decision comes first: the decision of God to free the enslaved, dead sinner and give him the ability to believe, or the free-choice decision of the sinner that then makes him or her one of the elect?’

-James White, The Potter’s Freedom, p.184

(Các Đoạn 39-42, 48-49 GSiV: Xem chi tiết)

(Also ‘decisional regeneration,’ ‘decisionism’ / ‘sự tái sinh bằng quyết định’)

(Election: Xem Chi Tiết)

Church growth, planning, and multiplication

“So the church throughout all Judea and Galilee and Samaria had peace and was being built up.  And walking in the fear of the Lord and in the comfort of the Holy Spirit, it multiplied (Acts 9:31).

“I’m not against strategic plans. I’m for them. They have their place, as a matter of wise stewardship. But they cannot generate the astonishing outcomes described in the book of Acts.

“Those early churches had no master plan for their future. But they were walking in the fear of the Lord and in the comfort of the Holy Spirit, and it worked.”

-Ray Ortlund, Jr.

Read whole article here

(Tại GSiV xem thêmđây đây đoạn 24)

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi–19

Điều thuyết Calvin cảnh báo là tất cả sự dạy dỗ tinh vi hạ thấp ân điển và quyền năng của Đức Chúa Trời. Phần lớn các Cơ đốc nhân sẽ đưa ra sự phục vụ giả dối đối với quyền năng của Đức Chúa Trời nhưng nhiều người sẽ bỏ nó đi bởi xác nhận rằng một người có điều đó với năng lực để quyết định, mong muốn vào trong vương quốc Đức Chúa Trời. (Chúng ta sẽ bàn thảo sau cách ý muốn, sự chọn lựa hay ý chí của con người liên quan đến sự cứu rỗi. Chỉ cần nói rằng sự thật là một người được chọn không trở thành một Cơ đốc nhân cách thụ động–đó là tín lý sai trật của thuyết Sandemanianism–một người có thể đơn giản muốn vào sự cứu rỗi cũng là điều không đúng với Kinh thánh.) Tội này, tín lý dạy rằng người đó có thể tự muốn mình vào vương quốc của Đức Chúa Trời, lan tràn khắp nơi đến nỗi nhiều Cơ đốc nhân bước vào sự cứu rỗi mà không ý thức điều họ đang tin và được dạy dỗ.’

SOME ENGLISH:

What Calvinism threatens is all teaching which subtly belittles God’s glory and sovereignty. Most all Christians will give lip service to God’s sovereignty but many will then take it away by asserting that a man has it within his power to decide, to will, himself into God’s kingdom….’

 

– Đoạn 25, GSiV: Xem chi tiết

Man’s Freedom Touched by his Sinfulness

‘…man, the great image-bearer of God, is a fallen creature, a slave to sin, spiritually dead, incapable of doing what is pleasing to God. Just as the great freedom of the Potter offends rebellious pots, so too does the Bible’s teaching on the inabilities of man due to sin. The fallen sons and daughters of Adam are most adept at finding ways to promote creaturely freedom at the cost of God’s freedom, while at the same time promoting the servitude of God to the whims and will of man. It would be humorous if it were not so serious: the pots gathering together and assuring each other that the Potter either doesn’t exist, or, at worst, will sit idly by while they take control and “run the show” themselves. Yet this is the impact of sin upon the thinking of man. Man suppresses the truth of his createdness and invariably attempts to find a means to “control” God.’

James White, The Potter’s Freedom, p.76

 

(Đoạn 42, GSiV: Ý chí tự do của con người, Xem chi tiết)

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi–18

Để cho thấy rằng thuyết Calvin, nhấn mạnh đặc biệt đến sự uy nguy và quyền năng của Đức Chúa Trời, đây không phải là tín lý quan trọng sao, có một vài phân đoạn trong toàn bộ Kinh thánh cho thấy sự vĩ đại của Đức Chúa Trời trong sự sáng tạo, sự cứu rỗi và tiền định (predestination).’

  • Sáng thế 1:1 “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất”
  • Xuất 4:11 “Đức Giê-hô-va bèn phán rằng: Ai tạo miệng loài người ra? hay là ai đã làm câm, làm điếc, làm sáng, làm mờ? Có phải ta là Đức Giê-hô-va chăng?”
  • Phục truyền 2:30 “Nhưng Si-hôn, vua Hết-bôn, không khứng chúng ta đi ngang qua địa phận người; vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã khiến cho tánh người ngoan ngạnh, lòng người cứng cỏi, để phó người vào tay ngươi, y như điều đã xảy đến ngày nay”
  • Phục truyền 32:39 “Bây giờ, hãy xem ta là Đức Chúa Trời, Ngoài ta chẳng có Đức Chúa Trời nào khác. Ta khiến cho chết và cho sống lại, Làm cho bị thương và chữa cho lành, Chẳng có ai giải cứu khỏi tay ta được.”
  • Gióp 42:1-2 “Gióp thưa với Đức Chúa Trời rằng: Tôi biết rằng Chúa có thể làm được mọi sự, Chẳng có ý chỉ nào Chúa lấy làm khó lắm”
  • Thi 22:9 “Phải, ấy là Chúa rút tôi khỏi lòng mẹ, Khiến tôi tin cậy khi nằm trên vú của mẹ tôi”

SOME ENGLISH:

To show that Calvinism, a stress on God’s magnificence and sovereignty, isn’t some peripheral doctrine, here are a few passages throughout the Bible that show God’s greatness in creation, salvation, and predestination.’

  • Genesis 1:1 “In the beginning, God created the heavens and the earth.”
  • Exodus 4:11 “Then the Lord said to him, ‘Who has made man’s mouth? Who makes him mute, or deaf, or seeing, or blind? Is it not I, the Lord?’”
  • Deuteronomy 2:30
  • Deuteronomy 32:39
  • Job 42:1-2
  • Psalm 22:9

 

– Đoạn 22, GSiV: Xem chi tiết

 

Spurgeon: Man’s ‘free’ will

Scripture is our final authority but note how Charles Spurgeon helps clarify what the Word actually says about man’s so-called ‘free will.’

 

  • ‘Beloved, do not any of you swerve from the free Grace of God, for the babblings about man’s free agency are neither more nor less than lies, right contrary to the Truth of Christ and the teachings of the Spirit. How certain, then, is the salvation of every elect soul! It does not depend on the will of man—he is “made willing” in the day of God’s power.’ -Spurgeon, 1856, “The Holy Spirit in the Covenant

(Đoạn 42, GSiV: Ý chí tự do của con người, Xem chi tiết)

(Also see GSiV here)

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi–17

‘Thách thức ân điển quyền năng

‘Đối với những người không hoàn toàn tin theo thuyết Calvin, chúng ta khích lệ họ tiếp nhận thách thức về tín lý ân điển quyền năng. Chúng ta mời họ cẩn thận đọc Rô-ma 9-11, hỏi liệu Đức Chúa Trời có đủ lớn để có quyền trên sự cứu rỗi của những người được chọn, và xem đoạn Kinh thánh này có dạy về điều đó hay không. Chúng ta hy vọng người đọc sẽ đặc biệt nghe được điều nói về quyền năng của Đức Chúa Trời khi liên hệ đến sự cứu rỗi không chỉ có điều nói về Y-sơ-ra-ên. Đặc trưng là những người không theo thuyết Calvin giải thích xa với ý nghĩa của sự chọn lựa trong Rô-ma 9-11 bằng cách nói rằng những điều như “cơ sở thiên thượng cho hành động này đơn giản chỉ là mục đích chọn lựa của Đức Chúa Trời trong Y-sơ-ra-ên” (Believer’s Study Bible, note on 9:13, p. 1612). Nhưng lý luận như thế làm lệch hướng sự chú ý vào quyền năng tể trị của Đức Chúa Trời sẽ không chính xác vì các chương 9-11 nói về những điều quan trọng và cụ thể hơn Y-sơ-ra-ên đó là sự cứu rỗi. (10:9-10), và đó là lý do Phao-lô nói đến điều đó. Những người Do-thái trong các thính giả của Phao-lô có thể đã nhìn thấy sự rộng lớn của Đức Chúa Trời, Chúa quyền năng, mà Ngài vẫn giữ công bình bất kể kết luận của ông về dân ngoại trong sự cứu rỗi. Ý của Phao-lô chỉ có nghĩa nếu vị sứ đồ nói về sự cứu rỗi thay vì chỉ nói về Y-sơ-ra-ên.’

SOME ENGLISH:

‘The Sovereign-grace challenge

For those not fully persuaded to Calvinism we encourage them to take the doctrines-of-sovereign-grace challenge. We would have them carefully read Rom 9-11 asking if God is big enough to be sovereign over the elect’s salvation, and if this text teaches it or not….’

 

– Đoạn 20, GSiV: Xem chi tiết

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi–13

 ‘Trong [Giăng] chương 6, Chúa Giê-xu phán: “Ví bằng Cha, là Đấng sai ta, không kéo đến, thì chẳng có ai được đến cùng ta, và ta sẽ làm cho người đó sống lại nơi ngày sau rốt” (câu 44). Giăng 6:65 nói rằng: “Ngài lại phán rằng: Chính vì cớ đó, mà ta đã nói cùng các ngươi rằng nếu Cha chẳng ban cho, thì chẳng ai tới cùng Ta được.” Sự nhấn mạnh ở đây là về quyền năng của Đức Chúa Trời và không phải ý muốn của con người. Vì vậy khi chúng ta chuẩn bị để Giăng 3:16 thể hiện đầy đủ ý của nó, đừng để ý con người trong đó. Vâng, Đức Chúa Trời yêu thế gian, nhưng chúng ta phải hiểu chữ “hễ ai” theo nghĩa như Chúa Giê-xu và Giăng bày tỏ. Chúng ta cho rằng chữ “hễ ai” không nhấn mạnh ý chí tự do của con người mà nhấn mạnh tình yêu và ân điển quyền năng (sovereign grace) của Đức Chúa Trời là điều soi sáng cách rõ ràng xuyên suốt toàn bộ Kinh Thánh, là hy vọng cứu chuộc duy nhất của người được chọn (as the elects’ only hope of redemption).’

 

SOME ENGLISH:

‘In [John] chapter 6 Jesus said, “No one can come to me unless the Father who sent me draws him. And I will raise him up on the last day” (verse 44)….’

 

– Đoạn 9, GSiV: Xem chi tiết

Free Will: Geisler and White

  • John 8:31–34 “So Jesus said to the Jews who had believed him, “If you abide in my word, you are truly my disciples, and you will know the truth, and the truth will set you free.” They answered him, “We are offspring of Abraham and have never been enslaved to anyone. How is it that you say, ‘You will become free’?” Jesus answered them, “Truly, truly, I say to you, everyone who practices sin is a slave to sin.” (ESV)
  • ‘Chúa Giê-xu bảo những người Do-thái đã tin Ngài rằng, “Nếu các ngươi trung thành với lời dạy của ta thì các ngươi sẽ là môn đệ thật của ta. Các ngươi sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải thoát các ngươi.” Họ đáp, “Chúng tôi là con cháu Áp-ra-ham, chưa hề làm tôi mọi ai. Tại sao thầy lại nói chúng tôi sẽ được giải thoát?” Chúa Giê-xu đáp, “Ta bảo thật, ai phạm tội là tôi mọi của tội lỗi.’ (BPT 2010)

 

‘The one who commits sin is the slave of sin. Slavery is servitude, not freedom. Christ’s words tell us that sin is a taskmaster, we the servants. We do not rule over it. It rules those who are under its power. Slavery is antithetical to “free will.” Man in sin is not free to do what is good.

 

‘It is utterly amazing, then, to read the words of Dr. Geisler who writes, [page 65] “We are born with a bent to sin, but we still have a choice whether we will be its slave.” How can this be when the Lord teaches that sin brings slavery? What kind of “choice” is left to the slave concerning his servitude?’

 

James White, The Potter’s Freedom, p.87

 

(Đoạn 42, GSiV: Ý chí tự do của con người, Xem chi tiết)

(Also see GSiV here)