QUYỀN NĂNG CAO CẢ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI Ở VIỆT NAM (Ê-phê 1:4-5)

Philadelphia Baptist Confession of Faith–part 8

Chương thứ nhất: “Giáo Lý Về Kinh Thánh”

Điều 7

Không phải tất cả mọi sự được trình bày trong Kinh Thánh đều luôn luôn tự rõ nghĩa và dễ hiểu đối với tất cả mọi người; nhưng những gì cần được biết, tin, và tuân thủ cho sự cứu rỗi đều được làm cho rõ hơn trong các nơi khác trong Kinh Thánh hầu cho cả người có trình độ học vấn cao lẫn người có trình độ học vấn thấp vẫn có thể đạt được một sự hiểu biết đầy đủ và thỏa đáng nếu như họ biết áp dụng cách phải lẽ các nguyên tắc quan sát, thông giải, và áp dụng Kinh Thánh căn bản.

Tuyên Xưng Philadelphia (1742)

 (GSiV: A Few Confessions of Faith in Vietnamese; Inerrancy)

Philadelphia Baptist Confession of Faith–part 7

Chương thứ nhất: “Giáo Lý Về Kinh Thánh”

Điều 6

Kinh Thánh đã chứa đựng đầy đủ mọi sự có cần cho sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, cho sự cứu rỗi của loài người, cho đức tin và sự sống cách đầy đủ và thỏa đáng khiến không cần phải có thêm bất cứ sự khải thị mới nào của Đức Thánh Linh hoặc bất cứ sự chỉ dẫn nào của truyền thống do con người thiết lập. Dầu vậy chúng ta phải nhận thức rằng có sự soi sáng thuộc linh của Đức Thánh Linh để người tin hiểu biết kiến thức cứu rỗi đã được khải thị trong Kinh Thánh, và rằng có những điều thuộc về sự thờ phượng Đức Chúa Trời, sự quản trị Hội Thánh, sự hành sử xã hội được chỉ định theo bản chất của từng phạm vi, theo sự cẩn trọng Cơ Đốc, theo các nguyên tắc căn bản của việc nghiên cứu Kinh Thánh là những điều cần phải được tuân thủ nghiêm ngặt.

Tuyên Xưng Philadelphia (1742)

 (GSiV: A Few Confessions of Faith in Vietnamese; Inerrancy)

Philadelphia Baptist Confession of Faith–part 6

Chương thứ nhất: “Giáo Lý Về Kinh Thánh”

Điều 5

Chúng ta luôn được thuyết phục mạnh mẽ theo sự xác chứng của Hội Thánh của Đức Chúa Trời đến mức có được một sự tôn trọng cao độ đối với Kinh Thánh; và tính thiêng liêng của vấn đề, tính hữu hiệu của các giáo lý, tính uy nghi của các sự giáo huấn, tính nhất trí giữa các phần với nhau, tính bao quát trên phương diện đề cập – và tất cả những sự này đều thuộc về sự vinh hiển của Đức Chúa Trời – hợp thành một sự bày tỏ về con đường cứu chuộc duy nhất cho nhân loại mà trong đó tất cả đều tuyệt vời, đều hoàn hảo khiến phải dẫn đến kết luận rằng Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời để rồi chúng ta đi đến một sự chứng giải khiến tin quyết hoàn toàn rằng Kinh Thánh là lẽ thật bất bại theo thẩm quyền Thiên Thượng bởi sự vận hành của Đức Thánh Linh thành Lời Ngài cho tấm lòng chúng ta.

Tuyên Xưng Philadelphia (1742)

(GSiV: A Few Confessions of Faith in Vietnamese; Inerrancy)

Philadelphia Baptist Confession of Faith–part 5

Chương thứ nhất: “Giáo Lý Về Kinh Thánh”

Điều 4

Thẩm quyền phải tuân theo của Kinh Thánh không hề do sự quả quyết của bất cứ người nào hay của bất cứ Giáo Hội nào mà là được dựa theo Đức Chúa Trời là Đấng tự chứng rằng Ngài là Tác Giả của Kinh Thánh để Kinh Thánh phải được tin nhận là chính Lời Ngài.

Tuyên Xưng Philadelphia (1742)

(GSiV: A Few Confessions of Faith in Vietnamese; Inerrancy)

Philadelphia Baptist Confession of Faith–part 4

Chương thứ nhất: “Giáo Lý Về Kinh Thánh”

Điều 3

Các sách ngụy kinh (Apocrypha) không hề được thần cảm, cũng không thuộc các kinh điển của Kinh Thánh, cho nên các sách này không hề có thẩm quyền trên Hội Thánh của Đức Chúa Trời, cũng như không thể được bất cứ ai kể là có thẩm quyền đối với Hội Thánh của Đức Chúa Trời mà phải được xem như là những văn phẩm thuần túy của con người tạo ra.

Tuyên Xưng Philadelphia (1742)

 (GSiV: A Few Confessions of Faith in Vietnamese; Inerrancy)

Philadelphia Baptist Confession of Faith–part 3

Chương thứ nhất: “Giáo Lý Về Kinh Thánh”

Điều 2

Với tên gọi là “Kinh Thánh”, tức Lời Thành Văn Của Đức Chúa Trời, Kinh Thánh chứa tất cả các Sách Cựu Ước và các Sách Tân Ước như sau:

Các Sách Cựu Ước:

  • Sáng Thế Ký, Xuất Êdíptô Ký, Lêvi Ký, Dân Số Ký, Phục Truyền Luật Lệ Ký, Giôsuê, Các Quan Xét, Rutơ, 1 Samuên, 2 Samuên, 1 Các Vua, 2 Các Vua, 1 Sử Ký, 2 Sử Ký, Exơra, Nêhêmi, Êxơtê, Gióp, Thi Thiên, Châm Ngôn, Truyền Đạo, Nhã Ca, Êsai, Giêrêmi, Ca Thương, Êxêchiên, Đaniên, Ôsê, Giôên, Amốt, Ápđia, Giôna, Michê, Nahum, Habacúc, Sôphôni, Aghê, Xachari, Malachi.

Các Sách Tân Ước:

  • Mathiơ, Mác, Luca, Giăng, Công Vụ Các Sứ Đồ, Rôma, 1 Côrinhtô, 2 Côrinhtô, Galati, Êphêsô, Philíp, Côlôse, 1 Tê salônica, 2 Tê salônica, 1 Timôthê, 2 Timôthê, Tít, Philêmôn, Hêbơrơ, Giacơ, 1 Phierơ, 1 Phierơ, 1 Giăng, 2 Giăng, 3 Giăng, Giuđe, Khải Huyền.

Tất cả các Sách Kinh Thánh đều được sự thần cảm của Đức Chúa Trời bởi Đức Thánh Linh để làm khuôn vàng thước ngọc cho Đức Tin và Đời Sống.

Tuyên Xưng Philadelphia (1742)

(GSiV: A Few Confessions of Faith in Vietnamese; Inerrancy)

Ân Điển của Chúa: Sự chọn lựa, Sự tiền định, và Sự biết trước

‘Theo Kinh Thánh, sự tiền định được giới hạn cho một số người được chọn, và sự tiền định bảo đảm cho địa vị hiện tại và số phận tương lai của họ. Về mặt thần học, thuật ngữ nầy đã được dùng để bao gồm tất cả mọi sự, có nghĩa là được dùng như một từ đồng nghĩa với kế hoạch toàn diện của Đức Chúa Trời. Từ định nghĩa về thần học nầy, thật dễ cho một số hình thức của thuyết Calvin dùng sự tiền định cho số phận của người không được chọn lựa. Vì thế đã xuất hiện giáo lý tiền định kép. Tuy nhiên, đây là một giả định về mặt lý luận, chứ không căn cứ trên các phân đoạn Kinh Thánh. Kinh Thánh nói rõ người được chọn thì được tiền định, nhưng không bao giờ gợi ý có một nguyên chỉ tương tự để chọn một số người cho bị định tội. Kinh Thánh dường như muốn để vấn đề ấy lại thành lẽ mầu nhiệm, và chúng ta cũng nên làm giống như thế.

‘3. Sự biết trước. Chữ proginoskô được dùng (a) để chỉ về sự hiểu biết từ trước trong trần thế nầy (Công vụ 26:5; 2 Phi-e-rơ 3:17); (b) chỉ về mối quan hệ của Đức Chúa Trời với Ysơraên (Rô-ma 11:2); và (c) chỉ về sự hy sinh của Đấng Christ (Công vụ 2:23; 1 Phi-e-rơ 1:20); và (d) chỉ về dân sự của Đức Chúa Trời ngày nay (Rô-ma 8:29; 1 Phi-e-rơ 1:2).

‘Cuộc tranh luận tập trung quanh vấn nạn: Có tồn tại mối tương quan đến mức nào trong chữ “sự biết trước.” Có phải chữ nầy chỉ đơn thuần nói Đức Chúa Trời biết trước theo ý nghĩa là biết trước mà không có một mối tương quan nào cả? Hoặc một biến thể của ý nầy: Có phải chữ nầy nói Ngài đã nhìn thấy trước về đức tin chứ không thấy trước về con người? Hoặc như thần học Calvin: Có phải Ngài đã liên hệ Ngài với con người từ trước cõi thời gian bằng cách nào đó, để rồi có một mối liên kết nhân quả khiến cho “biết trước” trên thực tế tương đương với “tiền định” hay “chỉ định trước”? Rõ ràng điều được biết trước chính là con người, chứ không phải đức tin của họ (Rô-ma 8:28-29). Cũng rõ ràng, sự biết trước như một nhận thức đơn thuần thì sự biết trước ấy không phải là cơ sở của sự chọn lựa, vì 1 Phi-e-rơ 1:2 bao gồm cả sự quyết định về phần Đức Chúa Trời nữa. Sự chọn lựa phù hợp với (kata) sự biết trước, và sự biết trước đó đã bao gồm cả thủ tục được dùng để tiến hành sự chọn lựa. Do vậy, có mối tương quan nào đó và/hoặc một quyết định nào đó vốn có sẵn trong ý nghĩa của việc biết trước. Chắc chắn câu 20 [1 Phi-e-rơ 1:20] bao gồm cả những ý tưởng đó, bằng không thì sẽ không bảo đảm được điều gì về sự hy sinh của Đấng Christ. Tương tự, có tính quyết định dứt khoát và tính biết chắc chắn trong Công vụ 2:23 và Rô-ma 11:2. Cách dùng chữ nầy trong Ngụy Kinh cũng bao gồm tính biết chắc chắn: “Và Sự đoán xét của Ngài ở trong sự biết trước của Ngài” (Judith 9:6). Đúng là chữ nầy không nói “chọn,”nhưng cũng không thể bị giảm xuống thành một khái niệm trung tính chỉ về riêng một mình sự nhận thức. Nó thực sự bao gồm sự quyết định, rồi đến lượt sự quyết định phải bao gồm cả sự bảo đảm xuất phát từ sự biết chắc chắn.’

-Charles Ryrie, Thần Học Căn Bản, tr. 383-384.

Read the whole thing here

[While we strongly disagree with Mr. Ryrie on his views of “non-lordship,” we think he has some valuable insight here regarding election. (For a biblical view of “Lordship” read this.)]

(GSiV: Election & Evangelism and Calvinism; Calvin on Election and Predestination)

The Cambridge Declaration: Scripture alone and Inerrancy

Luận Đề Thứ Nhất, “Sola Scriptura”, Tức Là “Chỉ Duy Nhất Kinh Thánh”…

Chúng ta tái khẳng định rằng Kinh Thánh là nguốn khải thị thành văn duy nhất của Đức Chúa Trời và vì thế chỉ duy nhất Kinh Thánh là có thẩm quyền trên lương tâm. Chỉ duy nhất Kinh Thánh dạy cho chúng ta những điều cần phải biết về sự cứu rỗi và về tiêu chuẩn mà mọi hành vi Cơ Đốc phải tuân theo.

Chúng ta phủ nhận mọi sự ràng buộc của tín điều trên đời sống của Cơ Đốc Nhân – bất kể là từ cá nhân hay Giáo Hội nào – và chúng ta không cho rằng Đức Thánh Linh có thể phán cách tách rời hay ngược lại các sự dạy dỗ của Kinh Thánh, và chúng ta cũng không cho rằng kinh nghiệm thuộc linh của cá nhân – bất kể là ai – là một kênh dẫn của sự khải thị Thiên Thượng.

Mục đích của việc nhấn mạnh “Chỉ Duy Nhất Đức Chúa Jêsus” là để giữ cho Đức Tin Trong Và Qua Đức Chúa Jêsus khỏi sự xói mòn.

Hễ khi nào niềm tin Cơ Đốc bị thế tục hóa thì các trọng điểm của Tin Lành sẽ bị phai mờ vì văn hóa của đời này. Hậu quả của việc này là tính tuyệt đối của lẽ thật không còn, chủ nghĩa cá nhân được dung túng, đời sống thánh khiết bị mất tính ưu tiên, trực giác được nâng bậc thay cho lẽ thật, cảm xúc thế chỗ cho đức tin, và cuộc theo Chúa của một người được xem như một sự kiện nhất tác, vạn thành. Nói chung, hễ khi nào niềm tin Cơ Đốc bị thế tục hóa thì chính Đức Chúa Jêsus và Thập Tự Giá của Ngài không còn đứng tại tâm điểm của Tin Lành Ngài nữa.

-Tuyên Xưng Đức Tin Cambridge

Read the whole thing here

(GSiV: 5 Onlys; Inerrancy; Philadelphia Baptist Confession of Faith–part 2)

Philadelphia Baptist Confession of Faith–part 2

Chương thứ nhất: “Giáo Lý Về Kinh Thánh”

Điều 1

Kinh Thánh là chuẩn mực duy nhất đầy đủ, chắc chắn, bất bại cho tri thức cứu rỗi, cho đức tin, và cho sự vâng lời; cho dầu toàn bộ giới thiên nhiên mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng cùng với sự dự ứng của Ngài cho nhân loại có bày tỏ về sự nhân từ, sự khôn ngoan, và quyền năng của Ngài để họ không có lý do chối tội vô tín của họ đối với Ngài nhưng các nội dung khải thị phổ quát ấy vẫn chưa đủ để đem lại một sự hiểu biết thỏa đáng về ý chỉ của Ngài là điều cần thiết cho việc đem họ đến với sự cứu rỗi. Do đó Đức Chúa Trời đã đẹp ý mà bày tỏ ý chỉ của Ngài cho Hội Thánh bằng nhiều cách khác nhau; và để bảo tồn và phổ biến cách tốt hơn cho Lẽ Thật về Ngài và về chương trình trọn vẹn của Ngài cho nhân loại; và cũng để khích lệ Hội Thánh đứng vững trước sức mạnh của xác thịt, sự giảo quyết của Satan và sự gian ác của thế gian Đức Chúa Trời đã đẹp ý ban lời thành văn của Ngài trong Kinh Thánh, khiến cho Lời Kinh Thánh trở nên đầy đủ và cần thiết hơn hết; và với việc đã hoàn thành sự khải thị của Ngài trong Kinh Thánh Đức Chúa Trời cũng đã đẹp ý mà cho kết thúc các cách bày tỏ đặc biệt khác về ý chỉ của Ngài.

Tuyên Xưng Philadelphia (1742)

 (GSiV: A Few Confessions of Faith in Vietnamese;

Inerrancy)

The Chicago Statement on Biblical Inerrancy (1978)

A Short Statement

  1. God, who is Himself Truth and speaks truth only, has inspired Holy Scripture in order thereby to reveal Himself to lost mankind through Jesus Christ as Creator and Lord, Redeemer and Judge. Holy Scripture is God’s witness to Himself.
  2. Holy Scripture, being God’s own Word, written by men prepared and superintended by His Spirit, is of infallible divine authority in all matters upon which it touches: it is to be believed, as God’s instruction, in all that it affirms; obeyed, as God’s command, in all that it requires; embraced, as God’s pledge, in all that it promises.
  3. The Holy Spirit, Scripture’s Divine Author, both authenticates it to us by His inward witness and opens our minds to understand its meaning.
  4. Being wholly and verbally God-given, Scripture is without error or fault in all its teaching, no less in what it states about God’s acts in creation, about the events of world history, and about its own literary origins under God, than in its witness to God’s saving grace in individual lives.
  5. The authority of Scripture is inescapably impaired if this total divine inerrancy is in any way limited or disregarded, or made relative to a view of truth contrary to the Bible’s own; and such lapses bring serious loss to both the individual and the Church.

Read the whole document

(GSiV: Inerrancy and Missions)

Philadelphia Baptist Confession of Faith–part 1

1            “Giáo Lý Về Kinh Thánh”

2            “Giáo Lý Về Đức Chúa Trời Và Đức Chúa Trời Ba Ngôi Hiệp Một”

3            “Nguyên Chỉ Của Đức Chúa Trời”

4            “Cuộc Sáng Tạo”

5            “Sự Dự Ứng Thiên Thượng”

6            “Cuộc Sa Bại Của Nhân Loại, Tội Lỗi, Và Sự Đoán Phạt Dành Cho Tội Lỗi”

7            “Giao Ước Của Đức Chúa Trời”

8            “Đức Chúa Jêsus Christ Là Đấng Trung Bảo”

9            “Ý Chí Tự Do”

10          “Sự Kêu Gọi Bất Khả Kháng”

11          “Sự Xưng Công Bình”

12          “Sự Nhận Làm Con”

13          “Sự Nên Thánh”

14          “Đức Tin Cứu Rỗi”

15          “Sự Ăn Năn Và Sự Cứu Rỗi”

16          “Việc Lành”

17          “Sự Kiên Bảo Đức Tin Cho Các Thánh Đồ”

18          “Sự Kiên Bảo Cho Ân Điển Và Sự Cứu Rỗi”

19          “Luật Pháp Của Đức Chúa Trời”

20          “Tin Lành Và Phạm Vi Của Ân Điển”

21          “Sự Tự Do Cơ Đốc Và Sự Tự Do Của Lương Tâm”

22          “Sự Thờ Phượng Tôn Giáo Và Ngày Sa Bát”

23          “Việc Hát Thánh Ca Trong Cuộc Thờ Phượng Chung Với Nhau”

24          “Việc Tuyên Thệ Hợp Pháp”

25          “Việc Tố Tụng Dân Sự”

26          “Hôn Nhân”

27          “Hội Thánh”

28          “Sự Thông Công Của Các Thánh Đồ”

29          “Lễ Báp Têm Và Lễ Tiệc Thánh”

30          “Lễ Báp Têm”

31          “Việc Đặt Tay Cầu Nguyện”

32          “Lễ Tiệc Thánh”

33          “Trạng Thái Sau Khi Chết Và Trạng Thái Sau Khi Phục Sinh”

34          “Cuộc Chung Thẩm Của Đức Chúa Trời”

Tuyên Xưng Philadelphia (1742)

(GSiV: A Few Confessions of Faith in Vietnamese)

Missionaries and Difficult Plodding

“A missionary plods through the first year or two, thinking that things will be different when he speaks the language. He is baffled to find, frequently, that they are not. He is stripped of all that may be called ‘romance.’ Life has fallen more or less into a pattern. Day follows day in unbroken succession; there are no crises, no mass conversions, sometimes not even one or two to whom he can point and say: ‘There is a transformed life. If I had not come, he would never have known Christ.’ There will be those among the Indians [or whichever people group] who say that they accept Christ, but what of the forsaking of heathen custom and turning from sin to a life of holiness? The missionary watches, and longs, and his heart sickens.

“The forces of evil, unchallenged for so long, are now set in array against the missionary.”

-Elisabeth Elliot, Through Gates of Splendor, 40th anniversary ed. pp. 151-152

(GSiV: Missions and Evangelism, “Success” and Missions: G. Aylward, Miller: Success, Failure, and Grace, Suffering in vocational ministry)