QUYỀN NĂNG CAO CẢ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI Ở VIỆT NAM (Ê-phê 1:4-5)

Original Sin & Total Depravity series–part 3

Nguyên tội và Hoàn toàn bại hoại

(Sự quy tội / Imputation of sin)

Typically, orthodox Protestants have believed in some form of original sin (also called inherited sin). At the most basic level, it means that when Adam sinned, sin infected the rest of us; when born, all people already have some sort of fallenness because of Adam. Many Christians have even gone further teaching, I think rightly, that we aren’t just born fallen but are born condemned (already guilty).

Below Tom Ascol deals with Romans 5 and some aberrant views about the doctrine of original sin. First, here’s the aberrant view of original sin (known as Provisionist/Provisionism/Traditional view). Note the word “alone.” 

  • ‘We affirm that, because of the fall of Adam, every person inherits a nature and environment inclined toward sin and that every person who is capable of moral action will sin. Each person’s sin alone brings the wrath of a holy God, broken fellowship with Him, ever-worsening selfishness and destructiveness, death, and condemnation to an eternity in hell.’ (Article 2).

Here is part of Ascol’s appropriate response:

‘While no evangelical denies that sinners are guilty before God and liable to His wrath by virtue of their sins, when the authors of this statement add the word “alone” to that point, they transgress the bounds of Protestant orthodoxy.

‘The key biblical text that must be considered at this point is Romans 5:12-19. Five times in this passage (12, 15, 17, 18, 19) the universal judgment of condemnation and death on all men is attributed to the one sin of the first man Adam. There is an undeniable solidarity between the first Adam and his posterity. Death is the penalty for sin and it has “spread to all men” (12) as an act of justice. Unless the penalty has been unjustly executed it is inescapable that all men are regarded guilty when the sentence is pronounced, which was at the point of Adam’s sin. The last phrase of verse 12, when seen in the light of the whole passage, forcefully makes this point. Death spread to all men “because all sinned” (ep ho pantes hamarton). This raises the question, “How and when did all men sin?” The context gives the answer.

‘In verse 18 Paul clearly joins the sin of Adam to the condemnation of all men. Verse 19 identifies Adam’s disobedience as the cause of many being “made” (katestarthesan) sinners. Adam’s sin is constitutive of the sinfulness and condemnation of men. Universal judgment and death are inextricably bound to the sin of the original man in verses 15-19. The thematic integrity of the pericope indicates that Paul is dealing with the same issue in verse 12 that he considers in verses 15-19, namely, the origin of death and condemnation. In verse 12 he charges the death of all men to the sin of all men. In verses 15-19 he attributes death and condemnation to the sin of Adam.’

-Ascol, “Traditional” Theology and the SBC: An Interaction with and Response to the Traditionalist Statement of God’s Plan of Salvation, 2018, p. 36.

Order here.

(GSiV: If Calvinism is true…part 3; Nguyên tội và Hoàn toàn bại hoại–part 1; A Few Confessions of Faith in VietnameseGospel Grace Versus Dead Religion–part 6Phúc Âm cho Cơ Đốc nhânPhiladelphia Baptist Confession of Faith–part 19; “Thế Nào Là Một Hội Thánh Khỏe Mạnh?”; Năm Luận Điểm: Ông John Piper–part 12)

Original Sin & Total Depravity series–part 2

Nguyên tội và Hoàn toàn bại hoại

(Sự quy tội / Imputation of sin)

Imputation

‘The first sin of Adam had unique significance for the whole human race (Rom, 5:12, 14-19; 1 Cor. 15:22). Here there is sustained emphasis upon the one trespass of the one man as that by which sin, condemnation and death came upon all mankind. The sin is identified as ‘the transgression of Adam’, ‘the trespass of the one’, one trespass’, ‘the disobedience of the one’, and there can be no doubt that the first trespass of Adam is intended. Hence the clause ‘because all men sinned’ in Rom. 5:12 refers to the sin of all in the sin of Adam. It cannot refer to the actual sins of all men, far less to the hereditary depravity with which all are afflicted, for in v. 12 the clause in question clearly says why ‘death spread to all men’, and in the succeeding verses the ‘one man’s trespass’ (v. 17) is stated to be the reason for the universal reign of death. If the same sin were not intended, Paul would be affirming two different things with reference to the same subject in the same context. The only explanation of the two forms of statement is that all sinned in the sin of Adam. The same inference is to be drawn from 1 Cor. 15:22, ‘in Adam all die’. If all die in Adam, it is because all sinned in Adam.’

-New Bible Dictionary, I. H. Marshall, J. I. Packer, et.al. (Intervarsity) / Thánh Kinh Tân Từ Điển (UUC: 2009, tr. 1878)

(GSiV: Nguyên tội và Hoàn toàn bại hoại–part 1; A Few Confessions of Faith in VietnameseGospel Grace Versus Dead Religion–part 6Phúc Âm cho Cơ Đốc nhânPhiladelphia Baptist Confession of Faith–part 19; “Thế Nào Là Một Hội Thánh Khỏe Mạnh?”; Năm Luận Điểm: Ông John Piper–part 12)

Nguyên tội và Hoàn toàn bại hoại–part 1

Original Sin & Total Depravity series

(Sự quy tội / Imputation of sin)

Sự quy tội

‘Tội lỗi đầu tiên của A-đam có một ý nghĩa có một không hai đối với toàn thể nhân loại (Rô 5:12, 14-19; 1 Cô 15:22). Ở đây có sự nhấn mạnh xác thực trên sự vi phạm của một người mà bởi tội đó, sự kết án và sự chết giáng trên cả nhân loại. Tội này được gọi là “tội lỗi của A-đam”, “tội lỗi của một người”, “một người phạm tội”, “sự không vâng lời của chỉ một người”, và không có gì nghi ngờ về dụng ý chỉ về tội đầu tiên của A-đam. Vì thế mệnh đề “vì mọi ngừoi đều đã phạm tội” trong Rô 5:12 ám chỉ đến tội lỗi của tất cả mọi người trong tội lỗi của A-đam. Lời phát biểu này không thể ám chỉ đến các tội thực tế của tất cả mọi người, càng không ám chỉ đến sự hư hoại di truyền trong đó tất cả mọi người đều chịu đau khổ, vì trong c. 12 mệnh đề đang được bàn đến rõ ràng nói vì sao “sự chết đã trải qua trên tất cả mọi người”, và trong các câu tiếp theo “tội lỗi cảu chỉ một ngừoi” (c. 17) được phát biểu như là lý do về sự cai trị toàn bộ của sự chết. Nếu không có dụng ý đề cập đến tội này, chắc hẳn Phao-lô phải xác định hai việc khác nhau với lời ám chỉ về cùng một chủ đề trong cùng một ngữ cảnh. Cách giải nghĩa duy nhất cho hài hình thức của lời phát biểu này của Phao-lô là mọi ngừoi đều đã phạm tội trong tội của A-đam. Cùng một suy luận như vậy được rút ra trong 1 Cô 15:22, “trong A-đam mọi người đều chết”. Nếu tất cả mọi người chết trong A-đam, đó là vì tất cả mọi người đều đã phạm tội trong A-đam.’

-New Bible Dictionary, I. H. Marshall, J. I. Packer, et.al. (Intervarsity) / Thánh Kinh Tân Từ Điển (UUC: 2009, tr. 1878)

(GSiV: A Few Confessions of Faith in VietnameseGospel Grace Versus Dead Religion–part 6Phúc Âm cho Cơ Đốc nhânPhiladelphia Baptist Confession of Faith–part 19; “Thế Nào Là Một Hội Thánh Khỏe Mạnh?”; Năm Luận Điểm: Ông John Piper–part 12)

Philadelphia Baptist Confession of Faith–part 19

Chương thứ sáu (6):

“Cuộc Sa Bại Của Nhân Loại, Tội Lỗi, Và Sự Đoán Phạt Dành Cho Tội Lỗi”

Các Điều 2-4

2.      ‘Bởi tội lỗi này mà nguyên tổ của chúng ta mất đi [c] sự công nghĩa nguyên thủy và sự thông công với Đức Chúa Trời, và vì dòng dõi loài người chúng ta là từ họ mà ra cho nên cũng phải cùng họ mà chịu sự chết: [d] Tất cả mọi người đều phải chết trong tội mình, phải bị ô uế cả thân và hồn [e] cách hoàn toàn.

[c]        Rô. 3:23

[d]        Rô. 5:12-21

[e]         Tít 1:15; Sáng. 6:5; Giê. 17:9; Rô. 3:10-19

3.      ‘Chính nguyên tổ của chúng ta là [f] căn nguyên, bởi sự thiết định của Đức Chúa Trời, phải chịu sự qui kết về tội lỗi và vì họ là người đứng đầu cho cả dòng dõi nhân loại cho nên bản chất tội lỗi của họ được lưu hậu xuống cho mọi thế hệ sau họ vì vậy tất cả mọi người đều [g] được hoài thai trong tội lỗi và phải làm con của [h] sự thịnh nộ của Đức Chúa Trời, làm đầy tớ cho tội lỗi, [i] phải chịu sự chết, phải chịu mọi điều khốn khổ về thuộc linh trong thế gian này và cả trong cõi đời đời nữa nếu như họ không có được [k] sự giải thoát từ Đức Chúa Jêsus Christ.

[f]         Rô. 5:12-19; 1Cô. 15:21, 22, 45, 49

[g]        Thi. 51:5; Gióp 14:4

[h]        Êph. 2:3

[i]          Rô. 6:20; 5:12

[k]        Hê. 2:15; 1Tê. 1:10

4.      ‘Do chính sự hư hoại nguyên thủy từ sự sa bại nguyên thủy mà con người trở nên [l] hoàn toàn miễn cưỡng, bất năng, và đối nghịch cùng mọi sự thiện hảo theo sự nhìn nhận của Đức Chúa Trời và hoàn toàn có xu hướng về điều ác, [m] lâm lụy trong các sự sai phạm khác nhau.’

[1]        Rô. 8:7; Côl. 1:21

[m]       Gia. 1:14, 15; Ma. 15:19

Tuyên Xưng Philadelphia (1742)

(GSiV: A Few Confessions of Faith in VietnameseGospel Grace Versus Dead Religion–part 6Phúc Âm cho Cơ Đốc nhân)

Philadelphia Baptist Confession of Faith–part 18

Chương thứ mười sáu (16):

“Việc Lành”

Điều 1

‘Chỉ được kể là việc lành đối với những gì được Kinh Thánh của Đức Chúa Trời đòi hỏi, còn những gì không được Kinh Thánh hậu thuẫn thì chỉ là do con người bày đặt ra theo sự ham thích mù tối của họ, hoặc theo các thiện ý giả tạo của họ mà thôi.’

Tuyên Xưng Philadelphia (1742)

(GSiV: A Few Confessions of Faith in VietnameseGospel Grace Versus Dead Religion–part 6Phúc Âm cho Cơ Đốc nhân)

Ba Ngôi Đức Chúa Trời (ôn lại) / Trinity (reviewed)–part 13

Chỉ có một Thiên Chúa, đó là Đức Chúa Trời 

Phục Truyền 6:4, “Hỡi Y-sơ-ra-ên! hãy nghe: Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta là Giê-hô-va có một không hai.”

Đức Chúa Cha là Đức Chúa Trời 

Ê-phê-sô 1:3, “Ngợi-khen Đức Chúa Trời, Cha Đức Chúa Jêsus-Christ chúng ta, Ngài đã xuống phước cho chúng ta trong Đấng Christ đủ mọi thứ phước thiêng-liêng ở các nơi trên trời,”

Đức Chúa Con là Đức Chúa Trời 

Cô-lô-se 2:9, “Vì sự đầy-dẫy của bổn-tánh Đức Chúa Trời thảy đều ở trong Đấng ấy như có hình.”

Đức Chúa Thánh Linh là Đức Chúa Trời 

Công Vụ 5:3-4, “Phi-e-rơ bèn nói với người rằng: Hỡi A-na-nia, sao quỉ Sa-tan đã đầy-dẫy lòng ngươi, đến nỗi ngươi nói dối cùng Đức Thánh-Linh . . . ? chẳng phải ngươi nói dối loài người, bèn là nói dối Đức Chúa Trời.”

Đức Chúa Cha không phải là Đức Chúa Con 

Giăng 3:16, “Vì Đức Chúa Trời yêu-thương thế-gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư-mất mà được sự sống đời đời.”

Đức Chúa Con không phải là Đức Chúa Thánh Linh 

Giăng 14:16, “Ta lại sẽ nài-xin Cha, Ngài sẽ ban cho các ngươi một Đấng Yên-ủi khác, để ở với các ngươi đời đời,”

Đức Chúa Thánh Linh không phải là Đức Chúa Cha 

Giăng 14:26, “Nhưng Đấng Yên-ủi, tức là Đức Thánh-Linh mà Cha sẽ nhân danh ta sai xuống . . . .” 

Đức Chúa Cha là một ngôi 

Lu-ca 22:42, “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén nầy khỏi tôi! Dầu vậy, xin ý Cha được nên, chớ không theo ý tôi!…”

Đức Chúa Con là một ngôi 

Ê-phê-sô 5:25, “Hỡi người làm chồng, hãy yêu vợ mình, như Đấng Christ đã yêu Hội-thánh. . . .”  

Đức Chúa Thánh Linh là một ngôi 

Ê-phê-sô 4:30, “Anh em chớ làm buồn cho Đức Thánh-Linh của Đức Chúa Trời, vì nhờ Ngài anh em được ấn-chứng đến ngày cứu-chuộc.”

(GSiV: A Few Confessions of Faith in VietnameseTrinity outline (Việt và Anh)Trinity chart/diagram (Việt và Anh)Ba Ngôi Đức Chúa Trời: Trinity (Ông Erickson)–Part 11;

Ba Ngôi Đức Chúa Trời: Trinity (Resources))

Heidelberg Catechism (Viet and Eng)–part 2

NGƯỜI SỰ ĐAU KHỔ CỦA CON NGƯỜI

3. HỎI: LÀM THẾ NÀO BẠN NHẬN BIẾT SỰ ĐAU KHỔ CỦA BẠN?

ĐÁP:

Luật pháp của Chúa bảo tôi như vậy.

  • 1. Rô-ma 3:20; 7:7-25. 

4. HỎI: LUẬT PHÁP CỦA CHÚA ĐÒI HỎI CHÚNG TA PHẢI LÀM GÌ?

ĐÁP:

Sự dạy dỗ của Chúa Cơ-đốc được tóm lược trong Phúc Âm Ma-thi-ơ đoạn 22. Ngươi phải yêu mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi

  • Với tất cả tấm lòng
  • Với tất cả linh-hồn
  • Với tất cả trí-khôn
  • Với tất cả sức-lực.Đây là điều răn thứ nhất và lớn hơn hết.

Và điều răn thứ hai như vầy: Ngươi phải yêu người lân-cận như chính mình 2. Cả hai điều-răn này đều thuộc về tất cả luật-pháp và lời tiên-tri.

  • 1. Phục truyền Luật lệ ký 6:5. 
  • 2. Lê-vi ký 19:18

Read more here

(GSiV: A Few Confessions of Faith in VietnameseMore Resourcespart 1)

Heidelberg Catechism (Viet and Eng)

This Bilingual English & Vietnamese version authorized by

The Canadian and American Reformed Churches

2006

Bản Song ngữ Anh – Việt

của Hội thánh Cải cách Mỹ và Canada

CHÚA NHẬT THỨ 1

NIỀM AN ỦI DUY NHẤT CỦA BẠN TRONG ĐỜI NÀY VÀ ĐỜI SAU LÀ GÌ?

ĐÁP:

Thân thể và linh hồn 1, đời sống hiện tại và đời sau 2 không thuộc về chính tôi nữa, nhưng thuộc về Cứu Chúa Giê-xu Cơ-đốc của tôi 3. Ngài đã trả đầy đủ cho tất cả tội lỗi của tôi bằng chính huyết báu của Ngài 4 và giải cứu tôi khỏi sự áp chế của ma quỷ 5. Ngài cũng canh giữ tôi như vậy 6, không một sợi tóc nào rơi khỏi đầu tôi mà không theo ý Cha của tôi ở trên trời 7. Thật vậy, mọi việc hiệp lại với nhau vì cớ sự cứu rỗi của tôi 8. Vì tôi thuộc về Chúa Cơ-đốc, nên Ngài bởi Đức Thánh Linh bảo đảm cho tôi sự sống đời đời 9 và làm cho tôi hết lòng mong muốn và sẵn sàng từ nay sống cho Ngài 10.

1. I Cô-rinh-tô 6:19,20.

2. Rô-ma 14:7-9.

3. I Cô-rinh-tô 3:23; Tít 2:14.

4. I Phi-e-rơ: 1:18,19; I Giăng 1:7-9, 2:2.

5. Giăng 8:34-36; Hê-bơ-rơ 2:14,15; I Giăng 3:1-11.

6. Giăng 6:39,40; 10:27-30; II Tê-sa-lô-ni-ca 3:3; I Phi-e-rơ 1:5. 7. Ma-thi-ơ 10:29-31; Lu-ca 21:16-18.

8. Rô-ma 8:28.

9. Rô-ma 8:15,16; II Cô-rinh-tô 1:21, 22, 5: 5; Ê-phê-sô 1:13-14. 10.Rô-ma 8:1-17.

Read more here

(GSiV: A Few Confessions of Faith in VietnameseMore Resources)

‘Chúa Thật Như Lời’ của Ông DeYoung

‘Taking God at His Word’

by Kevin DeYoung

‘Chúng ta có thể tin cậy Kinh Thánh hoàn toàn chăng? Kinh Thánh có thể giải quyết cuộc sống phức tạp của chúng ta sao? Chúng ta có thể hiểu được điều Kinh Thánh dạy không?

‘Bằng sự hóm hỉnh và thông suốt, tác giả được trao giải thưởng xuất sắc là Kevin DeYoung đã viết ra một tài liệu dẫn nhập về Kinh Thánh để giải đáp những câu hỏi quan trọng của người đã tin Chúa và chưa tin Ngài. Quyển sách này sẽ giúp bạn hiểu Kinh Thánh nói gì về Kinh Thánh, Chúa Jêsus nghĩ gì về Kinh Thánh, và những đặc điểm quan trọng góp phần vào sự tồn tại lâu dài của Kinh Thánh.

‘Bỏ qua những biệt ngữ về mặt kỹ thuật, thì quyển sách hấp dẫn này sẽ khuyến khích bạn đọc và đặt lòng tin quyết vào những gì Kinh Thánh đã chép — thực sự là Lời của Đức Chúa Trời.’

đọc thêm

(GSiV: InerrancyInspiration ; Philadelphia Baptist Confession of Faith–part 2)

Baptist Catechism (1689) (Tiếng Việt)–part 2

H.3: Làm thế nào để biết được là có Đức Chúa Trời?

Đ.: Sự khải thị của tự nhiên cho con người và công việc của Ngài trong giới

thọ tạo giúp công bố rằng hiển nhiên là có Đức Chúa Trời; nhưng chỉ có Lời Ngài trong Kinh Thánh và Đức Thánh Linh của Ngài mới có khả năng giúp bày tỏ đẩy đủ và hiệu quả về Đức Chúa Trời và về sự cứu rỗi cho tội nhân.

(Rô. 1:19-20; Thi. 19:1-3; Công. 17:24; 1Cô. 2:10; 2Ti. 3:15-16)

Giáo Lý Vấn Đáp–Theo Quan Điểm Tin Lành Báp Tít (1689), Baptist Catechism (1689).

Translated by ĐNT.

Read more here

(GSiV: A Few Confessions of Faith in Vietnamese)