QUYỀN NĂNG CAO CẢ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI Ở VIỆT NAM (Ê-phê 1:4-5)

Hope of the coming kingdom

‘…You look at me in this wheelchair paralyzed for 52 years and most people would think, “Oh, you’re looking forward to your new body?” And, yeah, Ok. That’s, again, one of those fringe benefits.

‘But I’m looking forward to the new heart. A heart free of manipulating others with precisely timed phrases, a heart free of fudging the truth, a heart free of hogging the spotlight, believing my own press releases, you know all that stuff. A heart free of not believing the best of others, a heart free of caving into fear or anxiety about the future. I mean I just can’t wait to have a heart free of sin. I will be holy as he is holy.’

-Joni Eareckson Tada {Joni speaking with Nancy Guthrie, “Suffering, Healing, and the Hope of Eternity” (video posted on thegospelcoalition.org, March 25, 2020) [Starts at 4:15 minute point]}

 

Read more here

 (GSiV: Humility; heaven; suffering)

Chúa Jesus Là Ai? của Ông Gilbert

 Chúa Jesus là ai?

Bạn Nghĩ Gì?

‘Bạn nghĩ về Chúa Jesus là ai?

‘Có lẽ bạn chưa bao giờ thực sự suy nghĩ nhiều về câu hỏi này. Theo một nghĩa nào đó thì điều này cũng dễ hiểu thôi. Xét cho cùng, chúng ta đang nói về một người được sinh ra trong thế kỷ thứ nhất trong một gia đình thợ mộc người Do Thái. Ngài không đứng đầu một đảng phái chính trị, không cai trị bất kỳ quốc gia nào, không chỉ hủy bất kỳ đội quân nào. Ngài thậm chí còn chưa bao giờ gặp một hoàng đế La Mã. Thay vào đó, trong ba năm rưỡi, người đàn ông này chỉ đơn giản là dạy dỗ mọi người về đạo đức và tâm linh, Ngài đọc và giải thích Kinh Thánh Do Thái cho người Do Thái, và nếu những nhân chứng về Ngài đáng tin, thì Ngài cũng đã làm một số việc khá là phi thường. Nhưng rồi, Chúa Jesus cũng phải chịu sự cai trị bất công của bậc cầm quyền trong thời của mình, và không lâu sau khi Ngài bắt đầu chức vụ công khai của mình, Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá bởi một trong những thống đốc La Mã–một viên quan cáp cao có quyền lực thực sự.

‘Trên hết, tất cả những điều này đã xây ra khoảng hai nghìn năm trước đây. Vậy tại sao chúng ta vẫn nói về Ngài? Tại sao chúng ta luôn bắt gặp nhân vật Jesus này?’

-Greg Gilbert, Chúa Jesus Là Ai?, Viet version 2019), tr. 10.

(GSiV: Phúc Âm Là Gì?)

Who needs grace most?

‘All of us need grace, the saint as well as the sinner. The most conscientious, dutiful, hardworking Christian needs God’s grace as much as the most dissolute, hard-living sinner. All of us need the same grace. The sinner doesn’t need more grace than the saint, nor does the immature and undisciplined believer need more than the godly, zealous missionary. We all need the same amount because the “currency” of our good works is debased and worthless before God.’

-Jerry Bridges, Holiness Day by Day, Week 7 / Monday

(GSiV: Ân điển, chứ không phải những quy tắc / Grace not rules;

Earning vs effort: grace, justification, and sanctification;

Jerry Bridges)

Traits of a Humble Leader

Below are just some of the good traits that Mr. Lee discusses about humility:

  1. Humble leaders tend to share their resources, whether in want or in plenty. Arrogant leaders tend to hoard their resources, unwilling to share unless they get something in return.
  2. Humble leaders tend to be bridge-builders, refusing to demonize or neglect the “other.” Arrogant leaders tend to work alone, refusing to partner with others—especially those who hold differing views.
  3. Humble leaders tend to ignore gossip, being wise enough to know there’s always another side to the story. Arrogant leaders tend to spread and entertain gossip, always wanting to hear the worst of others to make themselves feel better.
  4. Humble leaders tend to be king-makers, without clamoring to be kings themselves. Arrogant leaders tend to be attention-seekers, preferring to burn bridges or arrive with guns blazing if they don’t get their way.
  5. Humble leaders tend to celebrate others’ accomplishments and not their own. Arrogant leaders tend to disregard other people’s accomplishments if it doesn’t serve their agenda.
  6. Humble leaders tend to give the benefit of the doubt…

Moses Y. Lee 

Read the whole thing here

(GSiV: A Mindset All Reformed Folks Need; Ray Ortlund ; Humility; Gospel Grace Versus Dead Religion–part 5)

A lifetime message: the gospel for believers

‘If it’s true our relationship with God is based on his grace instead of our performance, why are we so prone to fall into good-day-bad-day thinking? It’s because we’ve relegated the gospel to the unbeliever.

Regardless of when you trusted Christ, the cross divides your life into two periods: “unbeliever” and believer.” What one word describes the Bible message you most needed to hear as an unbeliever? It’s the gospel, the power of God for salvation (Romans 1:16). And what one word describes the message we most need to hear as believers? I get many different answers to that question, but most can be summed up with the word discipleship–demands and duties such as the spiritual disciplines, holiness, and service.

I don’t question our emphasis on discipleship. Jesus did say, “Go therefore and make disciples” (Matthew 28:19). If anything, we need more challenging instruction on this. But there’s something more basic than discipleship, something that provides the necessary atmosphere in which discipleship can be practiced–the gospel.

We need to continue to hear the gospel every day of our Christian lives. Only a continuous reminder of God’s grace through Christ will keep us from falling into good-day-bad-day thinking, where we view our daily relationship with God as based on how good we’ve been.’

Jerry Bridges, Holiness Day by Day, Week 3 / Friday

(GSiV: Performance; Jerry Bridges; Earning vs effort: grace, justification, and sanctification)

Ân Điển của Chúa: Sự chọn lựa, Sự tiền định, và Sự biết trước

‘Theo Kinh Thánh, sự tiền định được giới hạn cho một số người được chọn, và sự tiền định bảo đảm cho địa vị hiện tại và số phận tương lai của họ. Về mặt thần học, thuật ngữ nầy đã được dùng để bao gồm tất cả mọi sự, có nghĩa là được dùng như một từ đồng nghĩa với kế hoạch toàn diện của Đức Chúa Trời. Từ định nghĩa về thần học nầy, thật dễ cho một số hình thức của thuyết Calvin dùng sự tiền định cho số phận của người không được chọn lựa. Vì thế đã xuất hiện giáo lý tiền định kép. Tuy nhiên, đây là một giả định về mặt lý luận, chứ không căn cứ trên các phân đoạn Kinh Thánh. Kinh Thánh nói rõ người được chọn thì được tiền định, nhưng không bao giờ gợi ý có một nguyên chỉ tương tự để chọn một số người cho bị định tội. Kinh Thánh dường như muốn để vấn đề ấy lại thành lẽ mầu nhiệm, và chúng ta cũng nên làm giống như thế.

‘3. Sự biết trước. Chữ proginoskô được dùng (a) để chỉ về sự hiểu biết từ trước trong trần thế nầy (Công vụ 26:5; 2 Phi-e-rơ 3:17); (b) chỉ về mối quan hệ của Đức Chúa Trời với Ysơraên (Rô-ma 11:2); và (c) chỉ về sự hy sinh của Đấng Christ (Công vụ 2:23; 1 Phi-e-rơ 1:20); và (d) chỉ về dân sự của Đức Chúa Trời ngày nay (Rô-ma 8:29; 1 Phi-e-rơ 1:2).

‘Cuộc tranh luận tập trung quanh vấn nạn: Có tồn tại mối tương quan đến mức nào trong chữ “sự biết trước.” Có phải chữ nầy chỉ đơn thuần nói Đức Chúa Trời biết trước theo ý nghĩa là biết trước mà không có một mối tương quan nào cả? Hoặc một biến thể của ý nầy: Có phải chữ nầy nói Ngài đã nhìn thấy trước về đức tin chứ không thấy trước về con người? Hoặc như thần học Calvin: Có phải Ngài đã liên hệ Ngài với con người từ trước cõi thời gian bằng cách nào đó, để rồi có một mối liên kết nhân quả khiến cho “biết trước” trên thực tế tương đương với “tiền định” hay “chỉ định trước”? Rõ ràng điều được biết trước chính là con người, chứ không phải đức tin của họ (Rô-ma 8:28-29). Cũng rõ ràng, sự biết trước như một nhận thức đơn thuần thì sự biết trước ấy không phải là cơ sở của sự chọn lựa, vì 1 Phi-e-rơ 1:2 bao gồm cả sự quyết định về phần Đức Chúa Trời nữa. Sự chọn lựa phù hợp với (kata) sự biết trước, và sự biết trước đó đã bao gồm cả thủ tục được dùng để tiến hành sự chọn lựa. Do vậy, có mối tương quan nào đó và/hoặc một quyết định nào đó vốn có sẵn trong ý nghĩa của việc biết trước. Chắc chắn câu 20 [1 Phi-e-rơ 1:20] bao gồm cả những ý tưởng đó, bằng không thì sẽ không bảo đảm được điều gì về sự hy sinh của Đấng Christ. Tương tự, có tính quyết định dứt khoát và tính biết chắc chắn trong Công vụ 2:23 và Rô-ma 11:2. Cách dùng chữ nầy trong Ngụy Kinh cũng bao gồm tính biết chắc chắn: “Và Sự đoán xét của Ngài ở trong sự biết trước của Ngài” (Judith 9:6). Đúng là chữ nầy không nói “chọn,”nhưng cũng không thể bị giảm xuống thành một khái niệm trung tính chỉ về riêng một mình sự nhận thức. Nó thực sự bao gồm sự quyết định, rồi đến lượt sự quyết định phải bao gồm cả sự bảo đảm xuất phát từ sự biết chắc chắn.’

-Charles Ryrie, Thần Học Căn Bản, tr. 383-384.

Read the whole thing here

[While we strongly disagree with Mr. Ryrie on his views of “non-lordship,” we think he has some valuable insight here regarding election. (For a biblical view of “Lordship” read this.)]

(GSiV: Election & Evangelism and Calvinism; Calvin on Election and Predestination)

 ‘Giáo Luật của Dordt (Dort)’ Là Gì?–part 12

Canons of Dordt (Dort)

The Canons of Dort (Rules or Guidelines of Dordt) come from an international council (synod / Hội Nghị) of Reformed people which took place in the city of Dordrecht (Dordtrecht), Netherlands in 1618-1619.

Giáo Điều Phần Thứ I

Sự Lựa Chọn Thiên Thượng và Sự Hư Mất

Điều 12: Vào đúng kì hạn nào đó, dù rằng ở những mức độ khác nhau và trong những số lượng khác biệt, những người được lựa chọn sẽ đạt tới sự biết chắc chắn về sự lựa chọn đời đời và bất biến này, chẳng phải bằng cách tò mò tìm hiểu các sự bí mật và sâu nhiệm của Đức Chúa Trời, nhưng bằng chính việc quan sát trong lòng họ, với một niềm vui thuộc linh và sự khoan khoái thánh thiện, để thấy được những bông trái chắc chắn của sự lựa chọn này, như đã bày tỏ trong lời của Đức Chúa Trời. Chẳn hạn nhờ đức tin chân thật nơi Đức Chúa Giê-xu Christ, sự hiếu kính, nỗi đau buồn của một tâm hồn mộ đạo đối với tội lỗi; lòng đói khát sự công bình v.v…

Full document in Vietnamese here.

See GSiV Resources page

(Also see here

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi: Tín Lý Về Ân Điển Quyền Năng

at GSiV)

Pride growing in our hearts

Key statements:

  • “We know the disease, but we don’t recognize the symptoms.”
  • “We certainly don’t think we deserve suffering, heartbreak, or discipline.”
  • “But when we experience these things, we grow bitter, frustrated, and disturbed because we believe we’re entitled to more.”
  • “You think you’re better than everyone else, so you easily find fault with others.”
  • “Yet there is hope for the proud heart in the incarnation of humility, Jesus Christ.”

Outline:

  • Fear
  • Entitlement
  • Ingratitude
  • People-Pleasing
  • Prayerlessness
  • Hypocrisy
  • Rebellion

-Jaquelle Crowe

Read the whole thing here

(GSiV: A Mindset All Reformed Folks Need; Unity)

Not on probation as performers

‘Why is it that every time we feel a little disconnected from you [God], or hear the condemning voice of the enemy; or encounter other believers more zealous, missionaries more generous, or young converts more committed than us–why is it that our first default mode is to lace up our running shoes and get busy for you?

‘Instead of running to you for grace, we start running to do something to “make you happy,” or make us feel better about ourselves. But we’re not on probation as performers; we’re in Christ as your beloved.’

-Scotty Smith

Read the whole thing here

(GSiV: Ân điển, chứ không phải những quy tắc / Grace not rules; Scotty Smith)

‘Giáo Luật của Dordt (Dort)’ Là Gì?–part 11

Canons of Dordt (Dort)

The Canons of Dort (Rules or Guidelines of Dordt) come from an international council (synod / Hội Nghị) of Reformed people which took place in the city of Dordrecht (Dordtrecht), Netherlands in 1618-1619.

Giáo Điều Phần Thứ I

Sự Lựa Chọn Thiên Thượng và Sự Hư Mất

Điều 11: Và bởi vì Chính Đức Chúa Trời là Đấng khôn ngoan nhất, Đấng không hề thay đổi, Đấng Toàn Tri và toàn năng, nên sự lựa chọn của Ngài không thể bị gián đoạn, hay thay đổi, hoặc hủy bỏ, hoặc vô hiệu hóa. Những người đã được Ngài lựa chọn cũng không thể bị bỏ rơi; và con số những người ấy không hề suy giảm.

Full document in Vietnamese here.

See GSiV Resources page

(Also see here

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi: Tín Lý Về Ân Điển Quyền Năng

at GSiV)

‘Giáo Luật của Dordt (Dort)’ Là Gì?–part 10 Canons of Dordt (Dort)

The Canons of Dort (Rules or Guidelines of Dordt) come from an international council (synod / Hội Nghị) of Reformed people which took place in the city of Dordrecht (Dordtrecht), Netherlands in 1618-1619.

Giáo Điều Phần Thứ I

Sự Lựa Chọn Thiên Thượng và Sự Hư Mất

Điều 10: Việc Đức Chúa Trời đẹp lòng là nguyên do duy nhất đưa tới sự lựa chọn đầy ân điển này. Chẳng phải từ trong số những hành động và đức tính tốt lành của con người mà Chúa đã lựa chọn đức tính này hay hành động kia làm điều kiện để được cứu chuộc. Nhưng từ trong đám tội nhân đó, bởi sự đẹp lòng của Ngài, Chúa đã lựa chọn một số người để thuộc riêng về Ngài, như có chép rằng: “Vì khi hai con, chưa sanh ra, chưa làm điều chi lành hay dữ, v.v… thì có lời phán cho mẹ của hai con (tức là Rê-bê-ca) rằng: Đứa lớn sẽ làm tôi đứa nhỏ; như có chép rằng: “Ta yêu Gia-cốp và ghét Ê-sau” (Rô-ma 9:11-13). Phàm những kẻ đã được định sẵn cho sự sống đời đời, đều tin theo (Công-vụ 13:48).

Full document in Vietnamese here.

See GSiV Resources page

(Also see here

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi: Tín Lý Về Ân Điển Quyền Năng

at GSiV)

Knowing you are forgiven is foundation of sanctification

“The only way to make men holy is to teach and preach free and full forgiveness through Jesus Christ.  The secret of being holy ourselves is to know and feel that Christ has pardoned our sins.  Peace with God is the only root that will bear the fruit of holiness.  Forgiveness must go before sanctification.”

J. C. Ryle, Expository Thoughts on the Gospels, on Luke 7:36-50 (Quoted by Ortlund)

(GSiV: Ân điển, chứ không phải những quy tắc / Grace not rules;

Earning vs effort: grace, justification, and sanctification;

Ray Ortlund)