Comparison: The Anti-gospel

“…Comparison isn’t just unhealthy for Christians; it’s downright antithetical to the faith we profess. The gospel is a message of radical acceptance—but it starts with recognizing we are not okay. We’re not beautiful, worthy, successful, perfect, or better than anyone else. We’re all sinners, every one of us. But in Christ, God has accepted us. He cleansed us, clothed us, saved us, changed us, loved us, adopted us—and he fulfills us.”

Jaquelle Crowe

Read it all here.

(GSiV: Miller: Success, Failure, and Grace,

 & Nên Thánh Động Lực Bởi Phúc Âm, & A Mindset All Reformed Folks Need)


Throughout the Christian life we will need to confess our sins to God and to those people around us. The reality is, we sin. Here’s how one man wisely states it:

‘We tend to hate being confronted. We tend to have a hard time admitting when we are wrong. We tend not to be thankful when we are in the position of needing to confess sin. We tend to want to avoid looking at how much we are still in need of grace…. There really is nothing that we will ever need to admit to [confess] and to honestly face that hasn’t been fully addressed by the grace that is ours because of the life, death, and resurrection of Jesus.’

-Paul Tripp, New Morning Mercies, Sept 16

(GSiV: Prayer, & Miller: Success, Failure, and Grace,

 (& Nên Thánh Động Lực Bởi Phúc Âm)

Fight Comparing Yourself to Others

In a recent article, Jaquelle Crowe laid out some basic steps to help fight pride and embrace the gospel in the way we see ourselves and others.

 ‘1. Feast on gospel-truth. Get in God’s Word and marinate your mind in gospel-truth….

‘2. Look for your comparison, and confess it. Start intentionally looking for what triggers your comparison….

‘3. Surround yourself with humble teachers. Listen to the people who are not marked by insecurity, comparison, and envy….

‘4. Read books that challenge your self-focus. As I’ve struggled with my tendency to compare myself to others, two books (after the Word of God) have hugely helped me….

‘5. Train yourself to love better. Instead of using people as measuring sticks against yourself, take steps to treat them as image-bearing individuals….

‘6. Cultivate gratitude. We compare ourselves because we are discontent….

‘7. Remind yourself of your identity in Christ. In other words, preach the gospel of acceptance in Christ to yourself….’

Read it all here.

(GSiV: Miller: Success, Failure, and Grace,

 & Nên Thánh Động Lực Bởi Phúc Âm, & A Mindset All Reformed Folks Need)

Grace not rules

Understanding and trusting what the Bible says about the Lord’s grace can make all the difference in the world. Note here what Mr. Bridges says about how he believed some wrong things about the Christian life and grace early in his Christian journey.

·       ‘…I assumed that God’s acceptance of me and his blessing in my life depended on how well I did. I knew I was saved by grace through faith in Christ apart from any works. I had assurance of my salvation and expected to go to heaven when I died. But in my daily life, I thought God’s blessing depended on the practice of certain spiritual disciplines, such as having a daily quiet time and not knowingly committing any sin. I did not think this out but just unconsciously assumed it, given the Christian culture in which I lived. Yet it determined my attitude toward the Christian life.’

-Jerry Bridges, “Gospel Driven Sanctification”

·       ‘…Tôi cho rằng Đức Chúa Trời chấp nhận tôi và sự ban phước của Ngài trên đời sống của tôi phụ thuộc vào việc tôi làm tốt điều ấy ra sao. Tôi biết mình đã được cứu bởi ân điển qua đức tin đặt nơi Chúa Giê-su ngoại trừ bất cứ công việc nào. Tôi đã bảo đảm sự cứu rỗi của mình và chờ đợi để lên thiên đàng khi tôi qua đời. Nhưng trong cuộc sống hàng ngày, tôi nghĩ rằng sự chúc phước của Đức Chúa Trời phụ thuộc vào việc thực hành kỷ luật thuộc linh nhất định, chẳng hạn như dành thời gian tĩnh nguyện hàng ngày và không cố ý phạm bất kỳ tội lỗi nào. Tôi không nghĩ điều này bên ngoài, nhưng chỉ thừa nhận nó một cách không cố ý, dựa trên nền văn hóa Cơ Đốc mà tôi đã sống. Tuy nhiên, nó xác định thái độ của tôi đối với đời sống Cơ Đốc Nhân.’

-Jerry Bridges (Xem thêm)

Analysis of T4T

Ân điển, chứ không phải những quy tắc / Grace not rules

Church: A Close Brotherly Community

Here are a few good words from a wise man. How to create that brotherly close community in the church:

  • ‘One, “Outdo one another in showing honor” (Rom. 12:10)….’
  • ‘Two, “Bear with one another” (Col. 3:13)….’
  • ‘Three, “Let no corrupting talk come out of your mouths but only such as is good for building up” (Eph. 4:29)….’

-Ray Ortlund, Jr.

Read the whole article.

(GSiV: A Mindset All Reformed Folks Need; Unity)

‘Giáo Luật của Dordt (Dort)’ Là Gì?–part 6

Canons of Dordt (Dort)

The Canons of Dort (Rules or Guidelines of Dordt) come from an international council (synod / Hội Nghị) of Reformed people which took place in the city of Dordrecht (Dordtrecht), Netherlands in 1618-1619.

Giáo Điều Phần Thứ I

Sự Lựa Chọn Thiên Thượng và Sự Hư Mất

  • Điều 6: Tình trạng một số người nhận được đức tin do sự ban cho của Đức Chúa Trời, còn những người khác không nhận được đức tin đó đã bắt nguồn từ ý chỉ đời đời của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời “Từ trước vô cùng Ngài đã thông biết việc đó” (Công-vụ 15:18) Đấng làm mọi sự hợp ý muốn của Ngài (Ê-phê-sô 1:11). Chính bởi quyết định riêng của Ngài mà Chúa làm mềm lòng những kẻ Ngài chọn lựa; dù cho họ có cứng cỏi đến bực nào Ngài cũng khiến cho họ tin theo. Trong khi ấy thì Chúa phó những kẻ không được lựa chọn vào sự phán xét công bình của Ngài, theo như sự gian ác và cứng đầu của họ. Ở đây chúng ta không thấy bày tỏ sự phân biệt sâu xa, đầy thương xót và công bình giữa những người cùng ở trong một tình trạng hư hoại. Chính luật về sự lựa chọn và hư mất đã được bày tỏ ra trong lời của Đức Chúa Trời đã mạng lại niềm an ủi khôn tả cho những linh hồn thánh thiện và tin kính. Còn những người bại hoại, bất khiết và tâm trí không vững vàng thì tự chuốc lấy sự diệt vong.
  • [God’s Eternal Decree] The fact that some receive from God the gift of faith within time, and that others do not, stems from his eternal decree. For “all his works are known to God from eternity” (Acts 15:18; Eph. 1:11). In accordance with this decree God graciously softens the hearts, however hard, of the elect and inclines them to believe, but by a just judgment God leaves in their wickedness and hardness of heart those who have not been chosen. And in this especially is disclosed to us God’s act—unfathomable, and as merciful as it is just—of distinguishing between people equally lost. This is the well-known decree of election and reprobation revealed in God’s Word. The wicked, impure, and unstable distort this decree to their own ruin, but it provides holy and godly souls with comfort beyond words.

Full document in Vietnamese here.

See GSiV Resources page

(Also see here

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi: Tín Lý Về Ân Điển Quyền Năng

at GSiV)

Differences between Calvinism and Arminianism?

Why can’t there be a mixing of the two views to produce what is sometimes called “Cal-minianism”?

  • ‘The gap between them at several points is wide and deep. It centers around the middle three points of the famous TULIP scheme: total depravity, unconditional election, limited atonement, irresistible grace, and perseverance of the saints. While Arminians accept divine election, they believe it is conditional. While they accept a form of limited atonement, they reject the idea that God sent Christ to die only for a portion of humanity. The atonement’s limited nature is grounded not in God’s intention but in human response. Only those who accept the grace of the cross are saved by God; those who reject it and seek salvation elsewhere fail to be included in it by their own choice, much to God’s dismay. While Arminians embrace the necessity of supernatural grace for salvation (as for any spiritual good, including the first stirring of the will toward God), they deny that God irresistibly bends human wills so that they are effectually saved apart from their own spontaneous (not autonomous) response.’

-Roger Olson, Arminian Theology: Myths and Realities, p. 63.

(Các Đoạn 39-42, 48-49 GSiV: Xem chi tiết)

(Election: Xem Chi Tiết)

The Protestant Reformation (En and Vn)

Cuộc Cải Chánh

Many posts below contain both Vietnamese and English.

Reformation History: Five Onlys–part 10

Reformation History: John Calvin là ai?–part 9

Reformation History: John Calvin là ai?–part 8

Reformation History: William Farel–part 7

Reformation History: Calvin và Farel–part 6

Reformation History: Teach Your Kids about it–part 5

Reformation History: 5 Điều Duy Nhất–part 4

Reformation History: Martin Luther’s Conversion (Spurgeon)–part 3

Reformation History: Martin Luther’s Conversion (Spurgeon)–part 2

Reformation History: Luther và Calvin–part 1

Was the Reformation a Missionary Movement?

Vận Mệnh của Cuộc Cải Chánh

J. Calvin bắt đầu theo Phong Trào Cải Chánh

The Great Translator: Tyndale and the Reformation

Radical Reformation: Anabaptists (B. Hubmaier)

Radical Reformation: Anabaptists

Radical Reformation: Three groups

Cuộc Cải Chánh Của Martin Luther–part 2

Cuộc Cải Chánh Của Martin Luther–part 1

Bức Thành Kiên Cố (A Mighty Fortress is our God)

Differences between Protestants and Catholics?

Scripture Alone!

Justification according to the Philadelphia Confession 1742

Luther, Calvin, Farel, Reformation

Năm Điều Duy Nhất Của Cuộc Cải Chánh (5 onlys, 5 solas)

Justification according to the Philadelphia Confession 1742

Happy Reformation Day!

What is the doctrine of justification?

Chương 11

  1. Những ai được Đức Chúa Trời ban cho sự kêu gọi bất khả kháng của Ngài cũng sẽ được Ngài xưng công bình, không phải bằng việc truyền vào trong họ sự công bình của Ngài mà bằng việc Ngài tha tội cho họ, và bằng việc chấp nhận họ và kể họ là công bình; chẳng phải vì bất cứ gì từ họ mà tất cả chỉ vì Đức Chúa Jêsus Christ mà thôi; chẳng phải vì tự thân đức tin hoặc thể theo bất cứ một sự vâng phục nào của họ mà chính là bởi sự qui kết thể theo sự vâng phục chủ động của Đức Chúa Jêsus Christ đối với toàn bộ luật pháp của Đức Chúa Trời, và thể theo sự vâng phục thụ động của Ngài trong sự chết Ngài mà kẻ được gọi của Đức Chúa Trời được xưng là công bình; kẻ được gọi của Đức Chúa Trời tiếp nhận Chúa Cứu Thế Jêsus và toàn tín nơi Ngài bằng đức tin là điều không phải tự họ có được mà thật ra là sự ban cho của Đức Chúa Trời. (Rô. 3:24; 8:30; Rô. 4:5, 6, 7, 8; Êph. 1:7; 1Cô. 1:30, 31; Rô. 5:17, 18, 19; Php. 3:8, 9; Êph. 2:8, 9, 10; Gi. 1:12; Rô. 5:17)
  2. Đức tin của kẻ được chọn của Đức Chúa Trời để toàn tín nơi Đức Chúa Jêsus Christ và sự công bình của Ngài là phương cách duy nhất để được xưng công bình: Dầu vậy cũng chẳng phải chỉ bởi duy nhất đức tin của kẻ được chọn của Đức Chúa Trời mà họ được xưng công bình mà đức tin ấy luôn luôn được cặp theo bởi các ân điển khác của Ngài nữa, và đức tin luôn luôn phải là đức tin kết quả trong tình yêu thương. (Rô. 3:28; Gal. 5:6; Gia. 2:17, 22, 26)
  3. Đức Chúa Jêsus, bởi sự vâng phục và sự chết của Ngài, đã thực sự trả xong nợ tội của những người đã được xưng công bình; Ngài làm điều ấy bằng sự hy sinh chính Ngài, bởi huyết đã đổ trên Thập Tự Giá, trả thay án phạt cho họ, đáp ứng đầy đủ điều kiện của sự công nghĩa của Đức Chúa Trời để tha tội vì chính Đức Chúa Cha đã ban Ngài cho họ chứ chẳng do bất cứ điều chi từ họ cả, sự xưng công bình ấy hoàn toàn là sự ban cho về ân điển là ân điển công nghĩa và phong phú cho chính sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. (Hê. 10:14; 1Phi. 1:18,19; Ês. 53:5, 6; Rô. 8:32; 2Cô. 5:21; Rô. 3:26; Êph. 1:6, 7; 2:7)

Tuyên Xưng Philadelphia (1742)

Chapter 11

  1. Those whom God effectually calleth, He also freely justifieth, not by infusing righteousness into them, but by pardoning their sins, and by accounting and accepting their persons, as righteous; not for anything wrought in them, or done by them, but for Christ’s sake alone; not by imputing faith itself, the act of believing, or any other evangelical obedience to them, as their righteousness, but by imputing Christ’s active obedience unto the whole law, and passive obedience in His death, for their whole and sole righteousness; they receiving, and resting on Him, and His righteousness by faith; which faith they have not of themselves: it is the gift of God.
  2. Faith thus receiving and resting on Christ and His righteousness, is the alone instrument of justification: yet it is not alone in the person justified, but is ever accompanied with all other saving graces, and is no dead faith, but worketh by love.
  3. Christ, by His obedience and death, did fully discharge the debt of all those that are justified; and did by the sacrifice of Himself, in the blood of His cross, undergoing in their stead the penalty due unto them, make a proper, real and full satisfaction to God’s justice in their behalf; yet, inasmuch as He was given by the Father for them, and His obedience and satisfaction accepted in their stead, and both freely, not for anything in them, their justification is only of free grace, that both the exact justice and rich grace of God might be glorified in the justification of sinners.

Philadelphia Baptist Confession of Faith (1742)

(Resources in Vietnamese and English at GSiV:

Luther, Calvin, Farel, Reformation & Sanctification &

Năm Điều Duy Nhất Của Cuộc Cải Chánh (5 onlys, 5 solas))


Cuộc Cải Chánh Của Martin Luther–part 2

Martin Luther (1483-1546)

Đến ngày 17 tháng 4 năm 1521 (tại tỉnh Worms ở Đức Quốc):

‘Để mở đầu hội nghị, viên tư pháp của Giáo Hoàng đứng lên chỉ tay vào hơn 20 quyển sách của Martin Luther để trên bàn, rồi hỏi Martin Luther rằng: “Có phải ngươi là tác giả của các sách này không? Ngươi có bằng lòng thủ tiêu các quyển sách đó cùng các quan điểm chứa đựng trong các sách đó không?”

‘Martin Luther đứng lên giữa phòng hội dõng dạc công nhận ông là tác giả của các sách đó.

‘Rồi ông bình tĩnh đưa ra các lý do khiến ông không thể thủ tiêu các sách đó được vì nghĩ rằng ông không thể để cho Giáo Hoàng hay là các Giáo Hội Nghị có quyền xét đoán niềm tin của mình. Nếu ai muốn thay đổi quan điểm của ông thì phải chỉ cho ông biết điểm nào sách ông nói không đúng với Kinh Thánh….’


 Xem thêm


(Resources in Vietnamese and English at GSiV:

Radical Reformation: Three groups,

Luther, Calvin, Farel, Reformation &

Năm Điều Duy Nhất Của Cuộc Cải Chánh (5 onlys, 5 solas))

Cuộc Cải Chánh Của Martin Luther–part 1

Martin Luther (1483-1546)

‘Ngày 31.10.1517, tức [500] năm trước, một tu sĩ người Đức tên Martin Luther đã đến gõ cửa nhà thờ Công Giáo La Mã ở Wittenberg. Ông đóng đinh lên cánh cửa đó tấm giấy da có chứa 95 Luận Đề nêu lên những sai phạm của nhà thờ đương thời. Đó là tia sét đầu tiên khởi phát cơn bão Cải Chánh sắp sửa ập đến trên Nhà thờ Công giáo La Mã thời bấy giờ.

‘Ngày kỷ niệm Cuộc Cải Chánh Tin Lành là một ngày đáng để chúng ta cùng nhau hân hoan vui mừng. Vui mừng vì lẽ gì?

‘Vui mừng vì từ đó hàng trăm triệu tín hữu đã quay lại với niềm xác tín rằng chỉ duy Lời Chúa có thẩm quyền tối cao trên đời sống họ (Sola Scriptura) và sự cứu rỗi là món quà được ban cho chỉ duy bởi ân điển Chúa (Sola Gratia) thông qua phương tiện duy nhất là đức tin (Sola Fide) nơi sự chết và sự sống lại của một Đấng Trung Bảo và Cứu Thế duy nhất là Jesus Christ (Sola Christus); vì thể mọi vinh hiển phải được quy về một mình Chúa Ba Ngôi mà thôi (Sola Deo Gloria).’

-John Piper (Huongdiministries)

 Xem thêm

(Resources in Vietnamese and English at GSiV:

Radical Reformation: Three groups,

Luther, Calvin, Farel, Reformation &

Năm Điều Duy Nhất Của Cuộc Cải Chánh (5 onlys, 5 solas))

Vận Mệnh của Cuộc Cải Chánh

Fortunes of the Reformation


‘The student of the Reformation is always impressed with the way in which the fortunes of the Reformation were so closely identified with the translation of the Bible into the common tongue of the people.’

‘Người nghiên cứu về Cuộc Cải Chánh luôn luôn có ấn tượng với phương chác mà vận mệnh của Cuộc Cải Chánh được gắn liền gần gũi với bản dịch Kinh Thánh sang tiếng mẹ đẻ của dân chúng.’

-Earle E. Cairns, Christianity through the Centuries, 1996, ed 3rd, p. 321 / Cơ Đốc Giáo Trải Các Thế Kỷ, 2010, tr. 364.

(Resources in Vietnamese and English at GSiV:

Luther, Calvin, Farel, Reformation &

Năm Điều Duy Nhất Của Cuộc Cải Chánh (5 onlys, 5 solas))