QUYỀN NĂNG CAO CẢ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI Ở VIỆT NAM (Ê-phê 1:4-5)

Nhưng Công Tác Truyền Giáo Không Phải Là Sự Cầu Nguyện

‘Do đó, hầu như ta không thể quá nhấn mạnh về vị trí lạ lùng của sự cầu nguyện trong mục đích của Đức Chúa Trời cho thế giới. Nhưng ở đây cần đưa ra lời cảnh báo. Tôi muốn nói về mối nguy cơ của việc cường điệu vai trò cầu nguyện liên hệ đến Lời Chúa và việc rao giảng Tin Lành. Chẳng hạn như tôi không cảm thấy thoải mái khi gọi sự cầu nguyện là “công tác truyền giáo.” Chúng ta sẽ không bỏ qua tính cần thiết không thể thiếu được của sự cầu nguyện nếu chúng ta từ chối lời tuyên bố này. Tôi không phủ nhận lời tuyên bố đó vì bất kỳ mong muốn thu nhỏ vị trí của sự cầu nguyện mà xuất phát từ việc đặt Lời Chúa trong công tác truyền giáo thế giới. Vì thế, hãy để tôi hô to và nói rõ rằng tôi tin sự rao báo Tin Lành bằng Lời và việc làm là công tác truyền giáo. Cầu nguyện là sức mạnh sử dụng vũ khí của Lời, và Lời là vũ khí bởi đó mọi dân tộc sẽ tin nhận và vâng lời Chúa.’

But the Work of Missions is Not Prayer

 ‘Therefore, it is almost impossible to overemphasize the awesome place of prayer in the purposes of God for the world. But a caution is needed here. I sense the danger of overstating the role of prayer in relation to the Word of God and the preaching of the gospel….’

-John Piper, Hãy Để Mọi Dân Tộc Reo Vui, trg 77-78 / Let the Nations Be Glad, p. 63.

Missions and Evangelism

Prayer

Sanctification: Affirmations and Denials

When we say we believe in sanctification, what do we mean? What do we believe and reject? The following information from the PCA is helpful.

 

‘Article I – Legalism is a Real Problem

  • We affirm that legalism is a dangerous problem….

‘Article II – The Gospel and Total Depravity

  • We affirm that unregenerate man, being totally depraved, is unable….

‘Article III – The Gospel Includes Sanctification

  • We affirm that the gospel provides salvation for the whole man….

‘Article IV – Union with Christ and Sanctification

  • We affirm that both justification and sanctification are distinct….

‘Article V – Gratitude and Motivation

  • We affirm that gratitude for justification is a powerful….

‘Article VI-Good Works not Merit

  • We affirm that believers are not under the Law….

‘Article VII – Adoption and Sanctification 

  • We affirm that through the finished work of Christ believers are adopted….

‘Article VIII – Effort and Sanctification 

  • We affirm that God-glorifying, Christ-centered….

‘Article IX – Faith and Sanctification

  • We affirm that growth in the Christian life comes through faith….

‘Article X – Preaching the Imperatives

  • We affirm that faithful preaching of the Law for use in the Christian life….

‘Article XI – Sanctification and Assurance

  • We affirm that Christians gain assurance of salvation by cherishing the promise….

‘Article XII – Sanctification and Victory

  • We affirm that Christians can and should experience victories over sin….’

-Read it all here.

Earning vs effort: grace, justification, and sanctification

 

Ân điển, chứ không phải những quy tắc / Grace not rules

Randy Alcorn, Nguyên Tắc Hánh Khiết (The Purity Principle)

Sanctification according to the Philadelphia Confession 1742

Note how this classic confession gives clarity to the teaching of sanctification:

Chương 13

‘1. Những người đã được ở trong Đấng Christ là những người đã được kêu gọi, đã được tái sinh, đã được có một tấm lòng mới và ý chí mới nhờ sự chết và sự sống lại của Ngài; họ cũng đang được Đức Chúa Cha làm cho nên thánh cách cá nhân và thực sự nhờ cùng một sự chết và sự sống lại của Chúa Cứu Thế Jêsus bởi Lời Kinh Thánh và Đức Thánh Linh ở cùng trong thân thể và đời sống của họ; sự thống trị tuyệt đối của tội lỗi trên thân thể họ đã bị phá vỡ cùng với các sự tham dục khác nữa, và những sự tham dục ấy ngày càng được làm cho trở nên yếu dần, và cuối cùng sẽ bị triệt tiêu hẳn; đồng thời họ cũng ngày càng trở nên tích cực hơn, mạnh mẽ hơn trong nguồn các ân điển của Đức Chúa Trời để thực hành sự thánh khiết thật sự của Ngài là sự thánh khiết mà nếu ai không có được thì cũng sẽ không thấy được Đức Chúa Trời. (Công. 20:32; Rô. 6:5, 6; Gi. 17:17; Êph. 3:16, 17, 18, 19; 1Tê. 5:21, 22, 23; Rô. 6:14; Gal. 5:14, 24; Côl. 1:11; 2Cô. 7:1; Hê. 12:14)

‘2. Sự nên thánh này diễn ra trong mọi phần của một con người nhưng sẽ vẫn cứ chưa hoàn hảo một khi còn ở trong đời này; vẫn còn có các tàn dư của sự hư hoại trong các phần của con người họ khiến diễn ra một cuộc tranh chiến không hòa hoãn và không ngưng nghỉ trong đời sống họ vì sự mê tham của xác thịt luôn nghịch lại ý chỉ của Đức Thánh Linh, và ý chỉ của Đức Thánh Linh cũng nghịch lại sự mê tham của xác thịt. (1Tê. 5:23; Rô. 7:18, 23; Gal. 5:17; 1Phi. 2:11)

‘3. Trong cuộc tranh chiến ấy cho dầu có khi tàn dư của sự hư hoại thắng thế nhưng qua sự thêm sức cho họ nên thánh không ngừng bởi Đức Thánh Linh của Đấng Christ thì xu hướng tái sinh vẫn cứ thắng thế và cuối cùng sẽ toàn thắng; nhờ đó các thánh đồ cứ mãi mãi tăng trưởng trong ân điển theo sự thánh khiết hoàn hảo tỷ lệ thuận với sự kính sợ Đức Chúa Trời, họ sống đời sống về hướng Thiên Đàng trong sự vâng phục Cơ Đốc đối với mọi giới mạng của Đức Chúa Jêsus Christ, Đấng là Nguyên Thủ và cũng là Vua của họ, thể theo Lời Kinh Thánh. (Rô. 7:23; Rô. 6:14; Êph. 4:15,16; 2Cô. 3:18; 7:1)’

Tuyên Xưng Philadelphia (1742)

Chapter 13

1. They who are united to Christ, effectually called, and regenerated, having a new heart and a new spirit created in them, through the virtue of Christ’s death and resurrection; are also further sanctified, really and personally, through the same virtue, by His Word and Spirit dwelling in them; the dominion of the whole body of sin is destroyed, and the several lusts thereof, are more and more weakened and mortified; and they more and more quickened, and strengthened in all saving graces, to the practice of all true holiness, without which no man shall see the Lord.

‘2. This sanctification is throughout in the whole man, yet imperfect in this life; there abideth still some remnants of corruption in every part, whence ariseth a continual and irreconcilable war; the flesh lusting against the Spirit, and the Spirit against the flesh.

‘3. In which war, although the remaining corruption for a time may much prevail yet through the continual supply of strength from the sanctifying Spirit of Christ, the regenerate part doth overcome; and so the saints grow in grace, perfecting holiness in the fear of God pressing after an heavenly life, in evangelical obedience to all the commands which Christ, as Head and King, in His Word hath prescribed to them.’

Philadelphia Baptist Confession of Faith (1742)

Earning vs effort: grace, justification, and sanctification

Ân điển, chứ không phải những quy tắc / Grace not rules

Sanctification according to the BF&M 2000

Here’s how one popular confession defines sanctification:

 

‘Sanctification is the experience, beginning in regeneration, by which the believer is set apart to God’s purposes, and is enabled to progress toward moral and spiritual maturity through the presence and power of the Holy Spirit dwelling in him. Growth in grace should continue throughout the regenerate person’s life.’ (IV.C)

Baptist Faith and Message (2000)

 

‘Sự nên thánh là một từng trải bắt đầu bằng sự tái tạo, nhờ đó tín nhân được biệt riêng cho mục đích của Đức Chúa Trời, và được thêm sức để tấn tới trên con đường luân lý và trưởng thành tâm linh qua sự hiện diện cùng quyền năng của Đức Thánh Linh là Đấng ngự trong mỗi tín nhân. Việc tăng trưởng trong ân phúc cần được tiếp nối liên tục suốt cuộc đời của một người đã được tái tạo.’ (IV.C)

Đức Tin và Thông Điệp của Người Báp-tít (2000)

Earning vs effort: grace, justification, and sanctification

Ân điển, chứ không phải những quy tắc / Grace not rules

Analysis of T4T: evangelism and discipleship?

George Terry has an article worth reading. His topic helpfully evaluates a popular training method that is especially popular in countries outside the USA.

Summary:

‘This article analyzes the theological premises of the popular T4T [training for trainers] model for evangelism and discipleship. The analysis argues that the T4T scheme largely depends on several false dichotomies that do not engage the Scriptures except in order to proof text and it regularly excludes the middle area that conveys the biblical balance. The result is an overly rigid methodology that undervalues the influence of context in cross-cultural communication. Rather than a theological vision that holds in biblical tension both truth and context, T4T sanctions an inflexible evangelism scheme that is more conducive to receptive audiences and a discipleship model that is more conversant with what is expedient than what is biblical.’

Terry, George A. “A Missiology of Excluded Middles: An Analysis of the T4T Scheme for Evangelism and Discipleship.” Themelios 42, no. 2 (2017): 335-352.

Phương pháp ‘Môn Đồ Hóa Dựa Trên Sự Vâng Phục’ là chủ nghĩa luật pháp phải không?

Kinh Thánh nói gì về môn đồ hóa?

Xem thêm:

Nên Thánh Động Lực Bởi Phúc Âm

Ân điển, chứ không phải những quy tắc

Grace not rules

-What is legalism in the Bible? (English and Tiếng Việt)

  • part 1 (definition from theological dictionary)
  • part 2 (definition from David Platt/Radical)
  • part 3 (two scenarios–case studies–from David Platt/Radical)
  • part 4 (clarity from article at GotQuestions)

Nên Thánh Động Lực Bởi Phúc Âm (Gospel-Driven Sanctification, Jerry Bridges)

Success, Failure, and Grace (English only)

Does your job feel like salvation by works? (English only)

Freedom from legalism: Colossians 2:20-23 in six versions (English and Tiếng Việt)

Earning vs effort: grace, justification, and sanctification (English only)

Grace (various articles at GSiV, some in English and some in Tiếng Việt)

-Gospel Grace for Vietnamese Christians (English and Tiếng Việt) [Hopefully coming soon]

//

Cô-lô-se 2:20-23:

“Nếu anh chị em đã chết với Chúa Cứu Thế và được giải thoát khỏi các thần linh đang cai trị thế gian, tại sao anh chị em còn sinh hoạt như người thế gian? Tại sao anh chị em còn giữ những luật lệ: ‘Chớ lấy, chớ nếm, chớ sờ!’ Tất cả những thứ ấy một khi đã dùng đến là băng hoại, theo quy luật và giáo huấn của loài người. Những điều ấy thật có vẻ khôn ngoan vì thờ lạy theo quy tắc con người tự đặt ra, với sự khiêm nhường và khắc khổ thân thể, nhưng không có giá trị gì để kiềm chế đam mê xác thịt.” (NVB)

Colossians 2:20–23:

“Since you died with Christ to the basic principles of this world, why, as though you still belonged to it, do you submit to its rules: “Do not handle! Do not taste! Do not touch!”? These are all destined to perish with use, because they are based on human commands and teachings. Such regulations indeed have an appearance of wisdom, with their self-imposed worship, their false humility and their harsh treatment of the body, but they lack any value in restraining sensual indulgence.” (NIV)

Mác 7:6–8:

“Ê-sai đã nói tiên tri về các ngươi, những kẻ đạo đức giả, thật đúng lắm, như đã chép rằng,
‘Dân nầy chỉ tôn kính Ta bằng đầu môi chót lưỡi,
Còn lòng chúng cách xa Ta lắm.
Việc chúng thờ phượng Ta là vô ích;
Giáo lý chúng dạy toàn là quy tắc của loài người.’
Các ngươi đã bỏ điều răn của Ðức Chúa Trời mà giữ truyền thống của loài người.” (BD2001)

Mark 7:6–8:

“Isaiah was right when he prophesied about you hypocrites; as it is written:
“ ‘These people honor me with their lips, but their hearts are far from me. They worship me in vain; their teachings are but rules taught by men.’
You have let go of the commands of God and are holding on to the traditions of men.”” (NIV)

Earning versus effort: grace, justification, and sanctification

As Christians, we know we have responsibilities–love God, love one another, care for widows and orphans, forgive our enemies, share the gospel of Christ, make disciples, etc. But even as we put forth effort in the Christian life to grow (sanctification), we should still understand our effort as possible only because of the Lord’s grace (justification). Had God not saved us we would still be dead in sin.

It is helpful when we distinguish between “earning” and “effort.” As Christians, we should not be busy merely because it’s our duty, trying to “earn” something from God. Rather we are fulfilling our duty joyfully by his Spirit and putting forth “effort” to grow because we know him already. Did we get that? Because we, Christians, know him already. As the Apostle Paul says, “May God himself, the God of peace, sanctify you through and through. May your whole spirit, soul and body be kept blameless at the coming of our Lord Jesus Christ. The one who calls you is faithful and he will do it” (1 Thessalonians 5:23–24). The Lord’s faithfulness in our lives will guarantee we have good works. Nonetheless we will put forth effort to do good works.

We can do good works because God has worked in us–and is working in us. Philippians 2:12–13 says it clearly, “Therefore, my beloved, as you have always obeyed, so now, not only as in my presence but much more in my absence, work out your own salvation with fear and trembling, for it is God who works in you, both to will and to work for his good pleasure.” We can do our good works because God lives in us and is working through us.

Here’s a quick summary:

  • Non-Christians cannot earn their salvation from God. Salvation is all by grace.
  • Christians cannot earn their relationship with God. This on-going relationship is all by grace.
  • Christians can and should put forth effort to grow in holiness. Holiness (sanctification) is all by grace but we put forth effort to grow.

Do you primarily live out of religious duty, rigorous and hard, trying desperately to earn something from God? Or do you obey (put forth effort) out of delight and joy that comes from knowing Christ?

Sanctification according to the Baptist Faith & Message 2000 (English and Tiếng Việt)

Sanctification according to the Philadelphia Baptist Confession 1742 (English and Tiếng Việt)

Sanctification: Affirmations and Denials–PCA: (English)

Đấng Christ làm Chúa (Christ is Lord / Lordship of Christ)

Freedom from legalism: Colossians 2:20-23

Colossians 2:20-23: Six versions

(ESV) 20 If with Christ you died to the elemental spirits of the world, why, as if you were still alive in the world, do you submit to regulations— 21 “Do not handle, Do not taste, Do not touch” 22 (referring to things that all perish as they are used)—according to human precepts and teachings? 23 These have indeed an appearance of wisdom in promoting self-made religion and asceticism and severity to the body, but they are of no value in stopping the indulgence of the flesh. (ESV)  

 

(VIET) 20 Ví bằng anh em chết với Đấng Christ về sự sơ học của thế gian, thì làm sao lại để cho những thể lệ nầy ép buột mình, như anh em còn sống trong thế gian:

21 Chớ lấy, chớ nếm, chớ rờ?

22 Cả sự đó hễ dùng đến thì hư nát, theo qui tắc và đạo lý loài người,

23 dầu bề ngoài có vẻ khôn ngoan, là bởi thờ lạy theo ý riêng, cách khiêm nhượng và khắc khổ thân thể mình; nhưng không ích gì để chống cự lòng dục của xác thịt. (VIET)

 

 

 

(NIV) 20 Since you died with Christ to the elemental spiritual forces of this world, why, as though you still belonged to the world, do you submit to its rules: 21 “Do not handle! Do not taste! Do not touch!”? 22 These rules, which have to do with things that are all destined to perish with use, are based on merely human commands and teachings. 23 Such regulations indeed have an appearance of wisdom, with their self-imposed worship, their false humility and their harsh treatment of the body, but they lack any value in restraining sensual indulgence. (NIV)

 

(BD2011) 20 Nếu anh chị em đã chết với Ðấng Christ về các nguyên tắc sống cơ bản của đời nầy, tại sao anh chị em sống như thể còn thuộc về đời nầy? Tại sao anh chị em còn chấp hành các quy tắc như, 21 “Chớ đụng, chớ nếm, chớ cầm”? 22 Tất cả các quy tắc ấy đều sụp đổ khi đem ra áp dụng, vì chúng đặt nền tảng trên mệnh lệnh và sự dạy dỗ của loài người. 23 Các quy tắc ấy có vẻ như khôn ngoan khi đề cao việc khắc khổ tu thân, hạ mình, và đày đọa thân xác, nhưng chẳng có giá trị gì trong việc kiềm chế dục vọng của xác thịt. (BD2011)

 

 

 

(NLV) 20 You have died with Christ and become dead to those old ways. Then why do you follow the old ways of worship? Why do you obey man-made rules? 21 These rules say, “You must not put your hand on this.” “Do not put this into your mouth.” “You must not put your finger on that.” 22 All these things come to an end when they are used. You are following only man-made rules. 23 It looks as if it is wise to follow these rules in an act of worship, because they are hard on the body. It looks as if they are done without pride, but they are worth nothing. They do not take away a man’s desire to sin. (NLV)

 

 

 

 

(BPT) 20 Nếu anh chị em đã chết với Chúa Cứu Thế và được giải thoát khỏi các thần linh thống trị thế gian thì tại sao anh chị em lại sống như thể mình còn thuộc về thế gian bằng cách vâng giữ những qui tắc như: 21 “Không nên ăn cái nầy,” “Không nên nếm món kia,” “Đừng đụng đến thứ nọ”? 22 Những qui tắc ấy dành cho những vật thuộc thế gian, hễ dùng xong là vô dụng. Đó là những qui tắc do loài người đặt ra và dạy dỗ thôi, 23 mới xem qua thì thấy như khôn ngoan nhưng thật ra chỉ là một phần của đạo giáo loài người. Những qui tắc ấy có vẻ như dễ dãi, bắt người ta ép xác nhưng thật ra không thể chế ngự được dục vọng xấu xa của con người tội lỗi. (BPT)

 

 

What is legalism in the Bible? (English and Tiếng Việt)

‘Giáo Luật của Dordt (Dort)’ Là Gì?–part 5

Canons of Dordt (Dort)

The Canons of Dort (Rules or Guidelines of Dordt) come from an international council (synod / Hội Nghị) of Reformed people which took place in the city of Dordrecht (Dordtrecht), Netherlands in 1618-1619.

Giáo Điều Phần Thứ I

Sự Lựa Chọn Thiên Thượng và Sự Hư Mất

Điều 5: Nguyên do của tội không tin và những tội khác bắt nguồn từ con người; còn đức tin nơi Đức Chúa Giê-xu Christ và sự cứu rỗi trong Ngài là tặng phẩm của Đức Chúa Trời ban cho, như có chép rằng: “Ấy là nhờ ân điển bởi đức tin mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời” (Ê-phê-sô 2:8). Bởi cớ Đức Chúa Giê-xu Christ, Ngài đã ban ơn cho anh em không những tin Đức Chúa Giê-xu Christ mà thôi v.v… (Phi-líp 1:29).

Full document in Vietnamese here.

See GSiV Resources page

(Also see here

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi: Tín Lý Về Ân Điển Quyền Năng

at GSiV)

John Calvin and Missions

Mr. Shawn Wright helps us consider a few truths often forgotten from church history:

‘Even though the Protestant reformers of the sixteenth century were regularly fighting for their survival because of Catholic assaults, and even though they had few resources and were land-locked, they believed in and practiced missions. We see this in the ministry of John Calvin (1509–1564)….’

Taking the Gospel to the Nations

‘Calvin argued that God “means that the work of this deliverance will be so excellent that it ought to be proclaimed, not in one corner only, but throughout the whole world….”’

Three Key Missions-Focused Events in Calvin’s Ministry

‘These missional ideas were lived out through Calvin’s ministry. Three events prove this to be the case. In 1544 Calvin had a hand in sending the first Protestant missionary, Pierre Brully, to the Catholic region of the Netherlands….’

‘Calvin’s heart for missions, as well as his aggressive record of church planting, is on display in his beloved country of France….’

The Results

‘The results of these efforts were awesome, as Pierre Courthial recounts: “In 1555 there were five organized Reformed [i.e., Protestant] churches in France; in 1559, the year the first national synod assembled in Paris, there were nearly 100; and by 1562 they numbered 2,150” (in W. S. Reid, ed., John Calvin, 77)….’

‘Calvin also showed his heart for missions when, in 1556, he was asked to send pastors to Brazil….’

-Shawn Wright, “John Calvin and Missions: That God Gather Churches from All Parts of the Earth.”

Read complete article here.

(Resources in Vietnamese and English at GSiV:

Evangelism and Calvinism,

Researching Calvinism and Missions?,

Luther, Calvin, Farel, Reformation)