QUYỀN NĂNG CAO CẢ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI Ở VIỆT NAM (Ê-phê 1:4-5)

Hồn của những người chưa được cứu thì bị cho đi Địa Ngục (Hell)

And the souls of the wicked [all those who haven’t been saved] are cast into Hell

Chapter 33:1

‘The bodies of men after death return to dust, and see corruption, but their souls, which neither die nor sleep, having an immortal subsistence, immediately return to God who gave them: the souls of the righteous being then made perfect in holiness, are received into paradise, where they are with Christ, and behold the face of God, in light and glory, waiting for the full redemption of their bodies; and the souls of the wicked are cast into hell, where they remain in torment and utter darkness reserved to the judgment of the great day; besides these two places, for souls separated from their bodies, the Scripture acknowledgeth none.’

‘Thân thể của con người sau khi chết lại trở về với bụi đất, [a] phải chịu sự tan rã, nhưng hồn của họ (vốn không chết mà cũng chẳng ngủ) vốn có bản chất bất tử nên lập tức [b] được trở về cùng Đức Chúa Trời là Đấng đã dựng nên hồn: Kể từ đó hồn của người công nghĩa được trở nên hoàn hảo trong sự thánh khiết, được vào ở trong Thiên Đàng là nơi họ được ở trong sự hiện diện của Đức Chúa Jêsus Christ và Đức Chúa Trời trong [c] sự vinh hiển của Ngài để đợi kỳ cứu chuộc cho thân thể của họ; và hồn của những người chưa được cứu [họ là kẻ ác] thì bị cho đi Địa Ngục là nơi họ phải chịu sự dày vò và ở trong sự tối tăm hoàn toàn để đợi đến ngày chịu [d] sự phán xét chung thẩm của Đức Chúa Trời; ngoài hai nơi này cho linh hồn sau khi xác đã chết Kinh Thánh không cho biết còn bất cứ nơi nào khác cả.’

  • [a]: Sáng. 3:19; Công. 13:36; [b]: Truyền. 12:7; [c]: Lu. 23:43; 2Cô. 5:1, 6, 8; Php. 1:23; Hê. 12:23; [d]: Giu. 6, 7; 1Phi. 3: 19; Lu. 16:23, 24.

Tuyên Xưng Philadelphia (1742) / Philadelphia Baptist Confession of Faith (1742)

{See other Vietnamese and English articles at GSiV:

Missions and Evangelism &

Sinners in Hands of an Angry God (Việt-Eng)}

Grace not rules

Understanding and trusting what the Bible says about the Lord’s grace can make all the difference in the world. Note here what Mr. Bridges says about how he believed some wrong things about the Christian life and grace early in his Christian journey.

·       ‘…I assumed that God’s acceptance of me and his blessing in my life depended on how well I did. I knew I was saved by grace through faith in Christ apart from any works. I had assurance of my salvation and expected to go to heaven when I died. But in my daily life, I thought God’s blessing depended on the practice of certain spiritual disciplines, such as having a daily quiet time and not knowingly committing any sin. I did not think this out but just unconsciously assumed it, given the Christian culture in which I lived. Yet it determined my attitude toward the Christian life.’

-Jerry Bridges, “Gospel Driven Sanctification”

·       ‘…Tôi cho rằng Đức Chúa Trời chấp nhận tôi và sự ban phước của Ngài trên đời sống của tôi phụ thuộc vào việc tôi làm tốt điều ấy ra sao. Tôi biết mình đã được cứu bởi ân điển qua đức tin đặt nơi Chúa Giê-su ngoại trừ bất cứ công việc nào. Tôi đã bảo đảm sự cứu rỗi của mình và chờ đợi để lên thiên đàng khi tôi qua đời. Nhưng trong cuộc sống hàng ngày, tôi nghĩ rằng sự chúc phước của Đức Chúa Trời phụ thuộc vào việc thực hành kỷ luật thuộc linh nhất định, chẳng hạn như dành thời gian tĩnh nguyện hàng ngày và không cố ý phạm bất kỳ tội lỗi nào. Tôi không nghĩ điều này bên ngoài, nhưng chỉ thừa nhận nó một cách không cố ý, dựa trên nền văn hóa Cơ Đốc mà tôi đã sống. Tuy nhiên, nó xác định thái độ của tôi đối với đời sống Cơ Đốc Nhân.’

-Jerry Bridges (Xem thêm)

Analysis of T4T

Ân điển, chứ không phải những quy tắc / Grace not rules

Prayer: Poverty of spirit

“A praying life isn’t simply a morning prayer time; it is about slipping into prayer at odd hours of the day, not because we are disciplined but because we are in touch with our own poverty of spirit, realizing that we can’t even walk through a mall or our neighborhood without the help of the Spirit of Jesus.”

-Paul Miller, A Praying Life, location 969

 (GSiV: Prayer; Miller: Success, Failure, and Grace)

Sinners in Hands of an Angry God (Việt-Eng)

Tội Nhân Trong Tay Thiên Chúa Đang Thịnh Nộ

‘This transcript is the most well-known sermon of pastor Jonathan Edwards (1703-1758). He preached this sermon in Enfield, Connecticut [USA] in 1741.’

‘Bài giảng này là bài giảng nổi tiếng nhất của mục sư Jonathan Edwards (1703-1758). Ông giảng bài này ở Enfield, Connecticut [Mỹ] vào năm 1741.’

“Their foot shall slide in due time.” Deut. 32:35

“…Vào lúc chân của chúng nó trượt ngã….” Phục Truyền Luật Lệ Ký 32:35

  • ‘It implies, that they were always exposed to sudden unexpected destruction. As he that walks in slippery places is every moment liable to fall, he cannot foresee one moment whether he shall stand or fall the next; and when he does fall, he falls at once without warning: Which is also expressed in Psalm 73:18-19. “Surely thou didst set them in slippery places; thou castedst them down into destruction: How are they brought into desolation as in a moment!”’
  • ‘Điều này cũng ám chỉ là sự hủy diệt có thể phủ chụp lên đầu họ bất cứ lúc nào. Như một người lảo đảo bước đi trên chỗ trơn trợt, người ấy không thể biết rằng với bước kế tiếp mình còn đứng được hay sẽ té ngã; và nếu bị ngã, người ấy sẽ ngã nhào ngay tức khắc mà không có một dấu hiệu nào báo trước. Điều này được miêu tả trong Thi Thiên 73: 18-19: “Thật vậy, Chúa đã đặt chúng nó tại nơi trơn trợt, Khiến cho chúng nó bị hư nát. Ủa kìa, chúng nó bị hủy diệt trong một lát….”’

Read the whole thing here (Việt và Anh)

(See other Vietnamese and English articles at GSiV: Missions and Evangelism)

Patient evangelism not ‘get rich quick’ method

Adoniram Judson (1788-1850) was an American missionary in Burma who lived overseas for several decades. The Lord used him and his steady but hard work overseas to build the church in Burma. Usually, the work the Lord has before us is slow, despite modern attempts in the church planting world to make fast look like the norm.

‘…Churches faithfully supported the ministry of a man [Adoniram Judson] they’d never met. They only knew Judson by way of his reputation and the letters that came several months after current events. He never once visited with rousing stories of regular converts.

‘SPIRITUAL GET-RICH-QUICK SCHEMES

The result is story after story of dramatic conversions and mass movements. Churches rarely celebrate slow, hard-slogging work that’s yet to see fruit. In doing so, we unintentionally create spiritual versions of get-rich-quick testimonials, showing how through only a little extra giving and a little extra prayer, you too can see an entire unreached people group saved in your lifetime….

‘INVEST PATIENTLY

Jesus made it abundantly clear that the effectiveness of sowing the word cannot be accurately measured right away. The parable of the soils shows us it takes time to see if a conversion is substantial or ephemeral (Matt. 13)….

‘LOCAL CHURCH AS SPIRITUAL MUTUAL FUND

One of the best ways for a church to grow in patience is to look for evidences of enduring grace….

‘Healthy churches will foster amongst their members a dogged determination to see the lost come to faith….’

-Caleb Greggsen

Read the whole article here

(Also see at GSiV:

Church Growth, Planning, and Multiplication

Starting Churches: Making Disciples

Nên Thánh Động Lực Bởi Phúc Âm)

Church: A Close Brotherly Community

Here are a few good words from a wise man. How to create that brotherly close community in the church:

  • ‘One, “Outdo one another in showing honor” (Rom. 12:10)….’
  • ‘Two, “Bear with one another” (Col. 3:13)….’
  • ‘Three, “Let no corrupting talk come out of your mouths but only such as is good for building up” (Eph. 4:29)….’

-Ray Ortlund, Jr.

Read the whole article.

(GSiV: A Mindset All Reformed Folks Need; Unity)

‘Giáo Luật của Dordt (Dort)’ Là Gì?–part 6

Canons of Dordt (Dort)

The Canons of Dort (Rules or Guidelines of Dordt) come from an international council (synod / Hội Nghị) of Reformed people which took place in the city of Dordrecht (Dordtrecht), Netherlands in 1618-1619.

Giáo Điều Phần Thứ I

Sự Lựa Chọn Thiên Thượng và Sự Hư Mất

  • Điều 6: Tình trạng một số người nhận được đức tin do sự ban cho của Đức Chúa Trời, còn những người khác không nhận được đức tin đó đã bắt nguồn từ ý chỉ đời đời của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời “Từ trước vô cùng Ngài đã thông biết việc đó” (Công-vụ 15:18) Đấng làm mọi sự hợp ý muốn của Ngài (Ê-phê-sô 1:11). Chính bởi quyết định riêng của Ngài mà Chúa làm mềm lòng những kẻ Ngài chọn lựa; dù cho họ có cứng cỏi đến bực nào Ngài cũng khiến cho họ tin theo. Trong khi ấy thì Chúa phó những kẻ không được lựa chọn vào sự phán xét công bình của Ngài, theo như sự gian ác và cứng đầu của họ. Ở đây chúng ta không thấy bày tỏ sự phân biệt sâu xa, đầy thương xót và công bình giữa những người cùng ở trong một tình trạng hư hoại. Chính luật về sự lựa chọn và hư mất đã được bày tỏ ra trong lời của Đức Chúa Trời đã mạng lại niềm an ủi khôn tả cho những linh hồn thánh thiện và tin kính. Còn những người bại hoại, bất khiết và tâm trí không vững vàng thì tự chuốc lấy sự diệt vong.
  • [God’s Eternal Decree] The fact that some receive from God the gift of faith within time, and that others do not, stems from his eternal decree. For “all his works are known to God from eternity” (Acts 15:18; Eph. 1:11). In accordance with this decree God graciously softens the hearts, however hard, of the elect and inclines them to believe, but by a just judgment God leaves in their wickedness and hardness of heart those who have not been chosen. And in this especially is disclosed to us God’s act—unfathomable, and as merciful as it is just—of distinguishing between people equally lost. This is the well-known decree of election and reprobation revealed in God’s Word. The wicked, impure, and unstable distort this decree to their own ruin, but it provides holy and godly souls with comfort beyond words.

Full document in Vietnamese here.

See GSiV Resources page

(Also see here

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi: Tín Lý Về Ân Điển Quyền Năng

at GSiV)

Differences between Calvinism and Arminianism?

Why can’t there be a mixing of the two views to produce what is sometimes called “Cal-minianism”?

  • ‘The gap between them at several points is wide and deep. It centers around the middle three points of the famous TULIP scheme: total depravity, unconditional election, limited atonement, irresistible grace, and perseverance of the saints. While Arminians accept divine election, they believe it is conditional. While they accept a form of limited atonement, they reject the idea that God sent Christ to die only for a portion of humanity. The atonement’s limited nature is grounded not in God’s intention but in human response. Only those who accept the grace of the cross are saved by God; those who reject it and seek salvation elsewhere fail to be included in it by their own choice, much to God’s dismay. While Arminians embrace the necessity of supernatural grace for salvation (as for any spiritual good, including the first stirring of the will toward God), they deny that God irresistibly bends human wills so that they are effectually saved apart from their own spontaneous (not autonomous) response.’

-Roger Olson, Arminian Theology: Myths and Realities, p. 63.

(Các Đoạn 39-42, 48-49 GSiV: Xem chi tiết)

(Election: Xem Chi Tiết)

Distinctives of ‘Lordship Salvation’

‘The gospel that Jesus proclaimed was a call to discipleship, a call to follow him in submissive obedience, not just a plea to make a decision or pray a prayer. Jesus’ message liberated people from the bondage of their sin while it confronted and condemned hypocrisy. It was an offer of eternal life and forgiveness for repentant sinners, but at the same time it was a rebuke to outwardly religious people whose lives were devoid of true righteousness. It put sinners on notice that they must turn from sin and embrace God’s righteousness….

 

First, Scripture teaches that the gospel calls sinners to faith joined in oneness with repentance (Acts 2:38; 17:30; 20:21; 2 Pet. 3:9)…. Second, Scripture teaches that salvation is all God’s work. Those who believe are saved utterly apart from any effort on their own (Titus 3:5)…. Third, Scripture teaches that the object of faith is Christ Himself, not a creed or a promise (John 3:16)…. Fourth, Scripture teaches that real faith inevitably produces a changed life (2 Cor. 5:17). Salvation includes a transformation of the inner person (Gal. 2:20)…. Fifth, Scripture teaches that God’s gift of eternal life includes all that pertains to life and godliness (2 Pet. 1:3; Rom. 8:32), not just a ticket to heaven…. Sixth, Scripture teaches that Jesus is Lord of all, and the faith He demands involves unconditional surrender (Rom. 6:17-18; 10:9-10)…. Seventh, Scripture teaches that those who truly believe will love Christ (1 Pet. 1:8-9; Rom. 8:28-30; 1 Cor. 16:22)…. Eighth, Scripture teaches that behavior is an important test of faith. Obedience is evidence that one’s faith is real (1 John 2:3)…. Ninth, Scripture teaches that genuine believers may stumble and fall, but they will persevere in the faith (1 Cor. 1:8)…. Most Christians recognize that these nine distinctives are not new or radical ideas. The preponderance of Bible-believing Christians over the centuries have held these to be basic tenets of orthodoxy….’

-Grace Community Church, Sun Valley, California

Read the whole thing here

(GSIV: Lordship, Earning vs effort: grace, justification, and sanctification)