QUYỀN NĂNG CAO CẢ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI Ở VIỆT NAM (Ê-phê 1:4-5)

Christians dating (or marrying) non-Christians?–part 1

‘”Mang ách chung” thường được áp dụng trong những mối quan hệ kinh doanh. Một Cơ Đốc Nhân bước vào mối quan hệ hợp tác với một người không tin sẽ tạo ra hậu quả nghiêm trọng. Họ có thế giới quan, đạo đức và những quyết định kinh doanh đối lập cần phải thực hiện mỗi ngày sẽ phản ánh quan điểm người này hay người kia. Vì mối quan hệ làm việc, người này hay người kia phải từ bỏ mối quan tâm đạo đức và hướng về người kia. Thường xuyên, người tin tự từ bỏ những nguyên tắc Cơ Đốc Nhân vì lợi nhuận và sự tăng trưởng kinh doanh.

‘Hiển nhiên, sự kết hợp gần gũi nhất một người có thể có được với một người khác được tìm thấy trong hôn nhân, và đây là cách mà đoạn Kinh Thánh thường được giải thích.’

  • ‘The “unequal yoke” is often applied to business relationships. For a Christian to enter into a partnership with an unbeliever is to court disaster. Unbelievers have opposite worldviews and morals, and business decisions made daily will reflect the worldview of one partner or the other. For the relationship to work, one or the other must abandon his moral center and move toward that of the other. More often than not, it is the believer who finds himself pressured to leave his Christian principles behind for the sake of profit and the growth of the business.‘Of course, the closest alliance one person can have with another is found in marriage, and this is how the passage is usually interpreted.’

Read the whole thing here: Việt, English

(GSiV: Những Nguyên Tắc Trong Hôn Nhân Có Đấng Christ Là Trung Tâm)

41 cách thể hiện của trái Thánh Linh trong Hội Thánh: phần 4

Trung Tín

  1. Chào thăm nhau (2 Cô-rinh-tô 13:12-13)
  2. Gặp gỡ nhau (Hê-bơ-rơ 10:25)
  3. Cân nhắc việc khích lệ nhau trong tình yêu thương và các việc lành (Hê-bơ-rơ 10:24)
  4. Khuyến khích nhau (Hê-bơ-rơ 10:24)
  5. Nhóp họp dự tiệc thánh với nhau (1 Cô-rinh-tô 11:33)

Nhu Mì

  1. Đối xử với nhau như chi thể của nhau (Ê-phê-sô 4:25)
  2. Dạy dỗ và khuyên răn nhau (Cô-lô-se 3:16, Romans 15:14)
  3. Dạy dỗ được cho nhau (Châm Ngôn 9:9, 10:17, 19:20)
  4. Giúp đỡ lẫn nhau (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:14)
  5. Thuận phục nhau (Ê-phê-sô 5:21)

Tiết Độ

  1. Mặc áo khiêm nhường khi đối đãi nhau (1 Phi-e-rơ 5:5)
  2. Mau nghe, chậm nói, chậm giận với nhau (Gia-cơ 1:16)

-Guest “G”

(GSiV: Unity)

41 cách thể hiện của trái Thánh Linh trong Hội Thánh: phần 3

Nhân từ

  1. An ủi nhau (1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:18)
  2. Đối xử nhân từ với nhau (Ephesians 4:32)
  3. Chăm sóc cho nhau (1 Cô-rinh-tô 12:25)
  4. Tiếp đãi nhau (1 Phi-e-rơ 4:9)

Lương Thiện

  1. Vui mừng và khóc với nhau (Rô-ma 12:15)
  2. Đối đáp nhau bằng lời ca thi thiên, thánh ca và các ca khúc thiêng liêng (Ê-phê-sô 5:19)
  3. Đừng lấy ác báo ác; làm điều thiện cho nhau (Rô-ma 12:17)

 

-Guest “G”

(GSiV: Unity)

41 cách thể hiện của trái Thánh Linh trong Hội Thánh: phần 2

Bình An

  1. Cùng một tình yêu thương, đồng tâm nhất trí với nhau (Phi-líp 2:2, Rô-ma 15:5, 1 Cô-rinh-tô 1:10)
  2. Coi người khác quan trọng hơn mình (Phi-líp 2:3)
  3. Sống hòa thuận với nhau (Rô-ma 12:16)
  4. Hoan nghênh và coi trọng sở thích của nhau (Rô-ma 14, 15:7)
  5. Sống hòa thuận thay vì khiêu khích nhau (Mác 9:50, Ma-thi-ơ 5:9, 1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:13)
  6. Xưng tội với nhau (Gia-cơ 5:16)
  7. Cầu nguyện cho nhau (Gia-cơ 5:16)
  8. Đừng phàn nàn trách móc nhau (Gia-cơ 5:9)
  9. Tha thứ cho nhau (Cô-lô-se 3:13)

Nhẫn Nại

  1. Đừng lên án nhau (Ma-thi-ơ 7:1-6; Rô-ma 14:13)
  2. Khoan dung, chịu đựng nhau (Cô-lô-se 3:13; Ê-phê-sô 4:2)

-Guest “G”

(GSiV: Unity)

41 cách thể hiện của trái Thánh Linh trong Hội Thánh: phần 1

Yêu Thương

  1. Làm cho người khác điều mình muốn họ làm cho mình (Ma-thi-ơ 7:12)
  2. Làm điều thiện cho nhau (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:15)
  3. Đừng khăng khăng đòi người khác theo ý mình nếu đó không phải ý Chúa (1 Cô-rinh-tô 13:5)
  4. Đừng suy dẫn và gán lòng dạ không tốt cho nhau (1 Cô-rinh-tô 13:7)
  5. Khuyến khích và gây dựng nhau (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:11) thay vì tự phụ, khiêu khích lẫn nhau (Ga-la-ti 5:26)
  6. Dùng ân tứ đã nhận lãnh để phục vụ cho nhau (1 Phi-e-rơ 4:10)
  7. Kính nhường nhau với lòng tôn kính (Rô-ma 12:10)
  8. Hãy mang gánh nặng cho nhau (Ga-la-ti 6:2)
  9. Lấy tình yêu thương nói lên sự thật (Ê-phê-sô 4:15)
  10. Lấy tình yêu thương phục vụ lẫn nhau (Ga-la-ti 5:13)

Vui Mừng

  1. Làm cho những người lãnh đạo hội thánh vui mừng trọn vẹn (Phi-líp 2:2, Hê-bơ-rơ 13:17)

-Guest “G”

(GSiV: Unity)

“New City Catechism” bằng Tiếng Việt–part 2

Giáo Lý Vấn Đáp Thành Phố Mới

(Sách Giáo Lý Có Câu Hỏi Vấn Đáp Thành Phố Mới)

PHẦN 1
Đức Chúa Trời, Sự Sáng Thế và Sự Sa Ngã, Luật Pháp

PHẦN 2
Đấng Christ, Sự Cứu Chuộc, Ân Điển

PHẦN 3
Đức Thánh Linh, Sự Phục Hồi, Tăng Trưởng Trong Ân Điển

(GSiV: Các Xưng Nhận Đức Tin (Tiếng Việt) / Confessions of Faith in Vietnamese)

“New City Catechism” bằng Tiếng Việt–part 1

Giáo Lý Vấn Đáp Thành Phố Mới

(Sách Giáo Lý Có Câu Hỏi Vấn Đáp Thành Phố Mới)

Q 1
Hy vọng duy nhất của chúng ta khi sống và chết là gì?

Đó là chúng ta không thuộc về mình, mà cả thân thể và linh hồn đều thuộc về Chúa và Chúa Cứu Thế Giê-su của chúng ta.

(GSiV: Các Xưng Nhận Đức Tin (Tiếng Việt) / Confessions of Faith in Vietnamese)

Success: My flesh demanded growth that could be seen

Here is some wisdom for vocational ministry in general and church planting specifically:

·       ‘When God didn’t reward our faithfulness at the church like I thought he should, my anger and despondency revealed a skewed view of ministry success. My identity wasn’t in God’s love for me, but in what I could do for him. My flesh demanded growth that could be seen and measured by others.

·       ‘In allowing failure, God reminded me he cares most about what he’s always cared most about: my heart.

·       ‘In ministry we plant and water, trusting God who determines the results. We know our crown isn’t in successes tangibly seen, but in how we finish the race marked out before us. So we limp through our failures, one step of obedience at a time.

·       ‘…our crown achievement, aim, and identity must be Jesus, not apparent success.’

Jade Campbell

The whole article

 

Dangerous Desire for Church Growth,

Miller: Success, Failure, and Grace,

Church Growth, Planning, and Multiplication,

Starting Churches: Making Disciples

Man’s chief end: Mục đích tối thượng của loài người là gì?

H. 1. Mục đích tối thượng của loài người là gì?

T. Mục đích tối thượng của loài người là làm vinh hiển Đức Chúa Trời, [a] và vui hưởng Ngài đời đời. [b]

  • [a]. Thi. 86:9; Ê-sai. 60:21; Rôm. 11:36; I Côr. 6:20; 10:31; Khải. 4:11
  • [b]. Thi. 16:5-11; 144:15; Ê-sai. 12:2; Luc 2:10; Phil. 4:4; Khải. 21:3-4; 1 Giăng 2:15-17

Giáo Lý Vắn Tắt Westminster / Sách Giáo Lý Có Câu Hỏi Vấn Đáp Westminster / Westminster Shorter Catechism

(GSiV: Các Xưng Nhận Đức Tin (Tiếng Việt) / Confessions of Faith in Vietnamese)

Becoming more humble

A recent article by Jane Tooher had some tips on growing in humility:

  • Thank God often and always
  • Confess your sins regularly
  • Be ready to accept humiliations
  • Don’t worry about status
  • Have a sense of humour
  • Listen to others
  • Ask questions
  • Consider others before yourself

One of many helpful thoughts:

“People who are humble inspire trust and confidence from those around them, and therefore humility is key for leadership.”

read the whole article

(GSiV: Unity)

The Blessing of Humility

‘There is a reason why a book like Jerry Bridges’ The Blessing of Humility matters so much.  The depth of personal spirituality represented here is not in our DNA.  We must rediscover it afresh in every generation, and it is not easy to learn and not easy to retain.  As a result, we are always one generation away from losing the personal tenderness of heart that Jerry Bridges and his generation, at their best, represented… Right now we who identify with TGC [The Gospel Coalition] are experiencing a theological resurgence. God is helping us all to recover the wonderful doctrines of justification by faith alone, substitution, imputation, union with Christ, and other truths clustered around the grace of God in the gospel. This resurgence is, for me, greatly encouraging. But doctrinal recovery alone is not enough. We need personal revival too. We need our hearts subdued to Christ and reinvigorated by Christ and alive to Christ. We need the best spirituality as well as the best theology, for the blessing to continue.’

-Ray Ortlund, Jr.

Read the whole post here

(GSiV: A Mindset All Reformed Folks Need; Unity)

Việc lành của chúng ta không bao giờ đền đáp được ơn tha tội của Chúa

We cannot by our best works merit pardon of sin or eternal life at the hand of God

Chapter 16:5

“Việc lành của chúng ta không bao giờ đền đáp được ơn tha tội của Đức Chúa Trời, hay sự sống đời đời của Ngài, vì những gì chúng ta làm được vĩnh viễn không sao cân đối được với sự vinh hiển mà chúng ta sẽ có trong tương lai, và ấy cũng là vì khoảng cách giữa Đức Chúa Trời với chúng ta là là vô hạn; sự thật là chúng ta không thể nhờ việc lành mà làm nhẹ đi ơn tha tội của Đức Chúa Trời được bất cứ chút nào cho nên dầu chúng ta có làm được tất cả những gì chúng ta có thể làm thì chúng ta cũng chỉ hoàn thạnh phận sự hầu việc của chúng ta mà thôi: Việc lành chỉ là việc lành nếu ấy là nhờ sự vận hành của Đức Thánh Linh, thiếu sự vận hành của Đức Thánh Linh thì việc của chúng ta làm chỉ là sự ô uế, chỉ là yếu đuối, bất toàn và sẽ không tồn tại trước sự phán xét nghiêm minh của Đức Chúa Trời.”

  • “We cannot by our best works merit pardon of sin or eternal life at the hand of God, by reason of the great disproportion that is between them and the glory to come, and the infinite distance that is between us and God, whom by them we can neither profit nor satisfy for the debt of our former sins; but when we have done all we can, we have done but our duty, and are unprofitable servants; and because they are good they proceed from his Spirit, and as they are wrought by us they are defiled and mixed with so much weakness and imperfection, that they cannot endure the severity of God’s punishment.”

Philadelphia Baptist Confession of Faith, 1742 (bằng Tiếng Việt)

{See other Vietnamese and English articles at GSiV:

Earning vs effort: grace, justification, and sanctification,

Ân điển, chứ không phải những quy tắc}