QUYỀN NĂNG CAO CẢ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI Ở VIỆT NAM (Ê-phê 1:4-5)

Ba Ngôi Đức Chúa Trời (Trinity: Confession)—part 6

Philadelphia Baptist Confession of Faith (1742)

Chapter 2: Of God and of the Holy Trinity

‘THE LORD OUR GOD is but one only living, and true God;1 whose subsistence is in and of Himself,2 infinite in being and perfections, whose essence cannot be comprehended by any but Himself;3 a most pure spirit,4 invisible, without body, parts or passions, who only hath immortality, dwelling in the light which no man can approach unto,5 who is immutable, immense,7 eternal,8 incomprehensible, almighty,9 every way infinite, most holy,10 most wise, most free, most absolute, working all things according to the counsel of His own immutable and most righteous will,11 for His own glory,12 most loving, gracious, merciful, long-suffering, abundant in goodness and truth, forgiving iniquity, transgression and sin, the rewarder of them that diligently seek Him,13 and withal most just, and terrible in His judgements,14 hating all sin,15 and will by no means clear the guilty.16

  • Footnotes: 1. 1Co 8:4, 6; Dt 6:4; 2. Jer 10:10; Isa 48:12; 3. Ex 3:14; 4. Jn 4:24; 5. 1Ti 1:17; Dt 4:15-16; 6. Mal 3:6; 7. 1Ki 8:27; Jer 23:23; 8. Ps 90:2; 9. Ge 17:1; 10. Isa 6:3; 11. Ps 115:3; Isa 46:10; 12. Pr 16:4; Ro 11:36; 13. Ex 34:6-7; Heb 11:6; 14. Ne 9:32-33; 15. Ps 5:5-6; 16. Ex 34:7; Na 1:2-3;

 

‘God, having all life,17 glory,18 goodness,19 blessedness, in and of Himself, is alone in, and unto Himself all-sufficient, not standing in need of any creature which He hath made, nor deriving any glory from them,20 but only manifesting His own glory in, by, unto, and upon them, He is the alone fountain of all being of whom, through whom, and to whom are all things,21 and He hath most sovereign dominion over all creatures, to do by them, for them, or upon them, whatsoever Himself pleaseth;22 in His sight all things are open and manifest,23 His knowledge is infinite, infallible, and independent upon the creature, so as nothing is to Him contingent or uncertain,24 He is most holy in all His counsels, in all His works,25 and in all His commands; to Him is due from angels and men, whatsoever worship,26 service, or obedience, as creatures they owe unto the Creator, and whatever He is further pleased to require of them.

  • Footnotes: 17. Jn 5:26; 18. Ps 148:13; 19. Ps 119:68; 20. Job 22:2-3; 21. Ro 11:34-36; 22. Da 4:25, 34-35; 23. Heb 4:13; 24. Eze 11:5; Ac 15:18; 25. Ps 145:17; 26. Rev 5:12-14;

 

‘In this divine and infinite Being there are three subsistences, the Father, the Word (or Son), and Holy Spirit,27 of one substance, power and eternity, each having the whole divine essence, yet the essence undivided;28 the Father is of none neither begotten nor proceeding, the Son is eternally begotten of the Father,29 the Holy Spirit proceeding from the Father and the Son,30 all infinite, without beginning, therefore but one God, who is not to be divided in nature and being, but distinguished by several peculiar, relative properties, and personal relations which doctrine of the Trinity is the foundation of all our communion with God, and comfortable dependence on Him.’

  • Footnotes: 27. 1Jn 5:7; Mt 28:19; 2Co 13:14; 28. Ex 3:14; Jn 14:11; 1Co 8:6; 29. Jn 1:14, 18. 30. Jn 15:26; Gal 4:6.

Link in English

 

Tuyên Xưng Philadelphia (1742)

Đoạn 2: Giáo Lý Về Đức Chúa Trời Và Đức Chúa Trời Ba Ngôi Hiệp Một

‘1. Đức Chúa Trời của chúng ta là [a] Đức Chúa Trời tự hữu hằng hữu là Đấng [b] duy nhất hằng sống và chân thật, là Đấng [c] mà thực thể Ngài là vô hạn và hoàn hảo, là Đấng mà bản thể Ngài không thể nào được bất cứ gì ngoài Ngài lĩnh hội hết được, [d] Ngài là một thực thể thần linh tối tinh anh, [e] bất khả thị, phi thân thể, phi thành phần và bất khả tác động, là Đấng duy nhất bất tử, Ngài ngự trong sự sáng bất khả tiếp cận, [f] là Đấng bất khả biến đổi, [g] là Đấng vô hạn, [h] là Đấng đời đời, là Đấng bất khả tận tri, [i] là Đấng toàn năng, là Đấng vô giới hạn trên mọi phương diện, [k] là Đấng tối thánh khiết, tối khôn ngoan, tối tự ý, tối tuyệt đối, [l] là Đấng khiến cho tất cả mọi sự hợp theo sự định mạng bởi ý chỉ tối công nghĩa và bất khả kháng của Ngài [m] cho sự vinh hiển của chính Ngài, là Đấng giàu yêu thương hơn hết, giàu nhân từ hơn hết, giàu thương xót hơn hết, giàu chịu đựng hơn hết, là Đấng tha thứ cho sự trái nghịch, sự vi phạm và tội lỗi, [n] là Đấng ban thưởng cho những ai hết lòng tìm kiếm Ngài, đồng thời [o] Ngài cũng là Đấng phán xét tối công bằng và đáng kinh khiếp nhất, [p] Ngài gớm ghiếc mọi tội lỗi và ngoài Ngài ra thì chẳng có bất gì có thể giải [q] tội đối với Ngài được.

  • Lời chú ở cuối trang: [a] Giê. 10:10; Ês. 48:12; [b] 1Cô. 8:4, 6; Phục. 6:4; [c] Xuất. 3:14; [d] Gi. 4:24; [e] 1Ti. 1:17; Phục. 4:15, 16; [f] Mal. 3:6; [g] 1Vua. 8:27; Giê. 23:23; [h] Thi. 90:2; [i] Sáng. 17:1; [k] Ês. 6:3; [1] Thi. 115:3; Ês. 46:10; [m] Châm. 16:4; Rô. 11:36; [n] Xuất. 34:6, 7; Hê. 11:6; [o] Nê. 9:32, 33; [p] Thi. 5:5, 6; [q] Xuất. 34:7; Na. 1:2, 3;

 

‘2. Đức Chúa Trời là Đấng tự sở hữu trọn vẹn [r] sự sống, [s] sự vinh hiển, [t] sự thiện hảo, sự phước hạnh [u] không hề cần bất cứ tạo vật nào của Ngài để làm nên sự vinh hiển Ngài hay bổ sung cho sự vinh hiển Ngài mà là sự vinh hiển Ngài được hiển thị trên các tạo vật Ngài và qua các tạo vật Ngài, Ngài là [x] nguồn duy nhất để từ đó và qua đó mọi sự hiện hữu và tồn tại, và Ngài nắm [y] quyền tể trị tối cao trên toàn cõi thọ tạo là quyền làm mọi sự hiệp theo ý chỉ Ngài qua giới thọ tạo ấy, cho giới thọ tạo ấy, và trên giới thọ tạo ấy; dưới [z] tầm nhìn Ngài mọi sự đều được phơi bày, [a] sự hiểu biết Ngài là vô hạn, bất bại và độc lập đối với giới thọ tạo; đối với Ngài chẳng có sự chi là ngẫu nhiên hay bất định; Ngài là Đấng chí thánh trong mọi ý chỉ Ngài, trong mọi công việc Ngài, trong mọi mệnh lệnh Ngài; [b] Ngài có đầy đủ quyền của Đấng Sáng Tạo đối với loài thọ tạo để đòi hỏi bất cứ [c] thiên sứ hay con người nào sự thờ phượng, sự hầu việc, sự vâng phục hay bất cứ sự gì khác.

  • Lời chú ở cuối trang: [r] 5:26; [s] Thi. 148:13; [t] Thi. 119:68; [u] Gióp 22:2, 3; [x] Rô. 11:34, 35, 36; [y] Đa. 4:25, 34, 35; [z] Hê. 4:13; [a] Êx. 11:5. Công. 15:18; [b] Thi. 145:17; [c] Khải. 5:12, 13, 14;

 

‘3. Trong Thực Thể Thiên Thượng Tự Hữu Và Vô Hạn này (Đức Chúa Trời) có sự thực hữu của [d] ba Thân Vị Thiên Thượng là Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con (hay “Ngôi Lời”), và Đức Thánh Linh đồng hữu cùng một bản thể, một quyền năng, một tính đời đời, mỗi Thân Vị đều tự hữu trọn vẹn bản chất thiên thượng [e] vốn không bao giờ phân ly, Đức Chúa Cha tự hữu cách vô khởi xuất, [f] đời đời Đức Chúa Con khởi xuất bởi Đức Chúa Cha, [g] Đức Thánh Linh khởi xuất từ Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con, cả ba Thân Vị đều vô thỉ vô chung trong duy nhất một Đức Chúa Trời bất khả phân ly về bản chất và về sự thực hữu nhưng lại được tách vạch nhau bởi các thuộc tính về quan hệ và các quan hệ tương tùy giữa các Thân Vị; chính từ các lẽ thật này mà giáo lý Kinh Thánh về Đức Chúa Trời Ba Ngôi Hiệp Một (tức Tam Vị Nhất Thể) là giáo lý nền tảng cho mối giao thông giữa chúng ta với Đức Chúa Trời, và cho sự nương cậy bình an của chúng ta đối với Ngài.’

  • Lời chú ở cuối trang: [d] 5:7; Ma. 28:19; 2Cô. 13:14; [e] Xuất. 3:14; Gi. 14:11; 1Cô. 8:6; [f] Gi. 1:14, 18; [g] Gi. 15:26; Gal. 4:6.

Link bằng Tiếng Việt

 

Relish God’s Supremacy—the New Birth

Do you enjoy God and his saving grace? Do you make much of him and his work in the new birth (regeneration)?

 

‘…the first effect of the power of God in the heart in REGENERATION, is to give the heart a Divine taste or sense; to cause it to have a relish of the loveliness and sweetness of the supreme excellency of the Divine nature; and indeed this is all the immediate effect of the Divine Power that there is, this is all the Spirit of God needs to do, in order to a production of [in order to produce] all good effects in the soul.’ -Jonathan Edwards, Treatise on Grace, p. 49

 

The new birth is something only God can bring about; no man ever brought about his own physical birth. And when the Lord breathes life into one of his elect, they delight in him.

 

GSiV

Ba Ngôi Đức Chúa Trời (Trinity)—part 2

Illustrations about the Trinity

When it comes to illustrating the Trinity it is best not to. Typically illustrations will teach more error than truth.

 

Below is one teacher’s WRONG teachings about the theology of the Trinity

‘Water may serve as a “three-in-one” illustration since it retains its chemical activity whether in solid, gas, or liquid state. There is also a triple point for water, a condition under which ice, steam, and liquid water can coexist in equilibrium. All are water, yet distinct from each other.’

 

Dưới đây là đánh giá SAI của một thầy về thần học của Ba Ngôi Đức Chúa Trời

‘Nước có thể minh họa “ba trong một” vì giữ lại được những hoạt tính hóa học của nó dầu ở dạng rắn, hơi, hay lỏng. Cũng có một điểm bộ ba mà tại đó tình trạng nước đá, hơi nước và nước dạng lỏng đồng tồn tại trong trạng thái cân bằng. Cả thảy đều là nước nhưng khác biệt với nhau.’

-Charles Ryrie, Basic Theology, p. 63 / Thần Học Căn Bản, p. 67

Ba Ngôi Đức Chúa Trời (Trinity)—part 1

Our churches are not Christian if they aren’t Trinitarian. Does your church embrace all that the Bible teaches about God’s one-ness and his three-ness?

‘1) There is one God (Deuteronomy 6:4; 1 Corinthians 8:4; Galatians 3:20; 1 Timothy 2:5).
‘2) The Trinity consists of three Persons (Genesis 1:1, 26; 3:22; 11:7; Isaiah 6:8, 48:16, 61:1; Matthew 3:16-17, 28:19; 2 Corinthians 13:14).
‘3) The members of the Trinity are distinguished one from another in various passages.
‘4) Each member of the Trinity is God.
‘5) There is subordination within the Trinity.
‘6) The individual members of the Trinity have different tasks.’

‘1. Có một Đức Chúa Trời: Phục truyền luật lệ ký 6:4; 1 Cô-rinh-tô 8:4; Ga-la-ti 3:20; I Ti-mô-thê 2:5.

‘2. Đức Chúa Trời Ba ngôi gồm có ba thân vị.

‘3. Các thân vị trong Ba ngôi Đức Chúa Trời được phân biệt từng vị một trong nhiều chỗ trong Kinh Thánh.

‘4. Mỗi thân vị trong Ba ngôi là Đức Chúa Trời….

‘5. Sự lệ thuộc trong Ba ngôi Đức Chúa Trời….

‘6. Công tác của từng thân vị trong Ba ngôi….’

Read the whole article here

Đọc bài viết ở đây

Common Questions the Doctrine of Election Raises

In an article titled “3 Objections to the Doctrine of Election,” Tim Keller makes some key points:

‘1. If you believe in election, doesn’t that leave you with the problem of why God doesn’t choose to save everyone?

 

  • ‘Yes, but the same is true for Christians who don’t believe in election. Election doesn’t create the problem, it only leads us to think about it….

 

‘2. But if everything is fixed and certain, why pray, evangelize, or do anything at all?

 

  • ‘This objection is short-sighted. First, if everything was not planned by a holy and loving God, we’d be absolutely terrified by the prospect of even getting up in the morning….

 

‘3. I believe the Bible and I see all the teaching about election, but why do I still dislike it?

 

  • ‘My theory is that the biblical gospel is so supernatural that it always combines qualities that by natural reason and culture we cannot keep together….’

 

Read the whole thing here

Reformation History: Luther và Calvin–part 1

‘Calvin là sự tương phản thú vị với Luther. Luther được sinh ra trong gia đình nông dân, nhưng cha của Calvin là một công tố viên. Điều này khiến Calvin trở thành thành viên của tầng lớp chuyên nghiệp. Luther nghiên cứu triết học và thần học đang khi ở đại học, nhưng Calvin theo học về nhân văn và luật pháp. Vì vậy, ông thiên về hướng làm nhà tổ chức của đạo Cải Chánh trong khi Luther là tiếng nói tiên tri của phong trào này. Luther có thể chất khỏe mạnh, nhưng Calvin phải chống chọi với bệnh tật trong thời kỳ làm việc tại Geneva. Luther yêu quê hương và gia đình mình, nhưng Calvin về cơ bản lại là một sinh viên cô đơn. Luther vốn sống trong nước Đức quân chủ, nên đã tìm sự hậu thuẫn từ giới quý tộc và hoàng thân; Calvin sống trong nước Thụy Sĩ cộng hòa, nên đã quan tâm đến sự phát triển quản trị đại diện trong hội thánh.’

-Earle E. Cairns, Cơ Đốc Giáo Trải Các Thế Kỷ, 2010, Tr. 339

 

‘Calvin was an interesting contrast to Luther. Luther had been born of peasant stock, but Calvin’s father was a notary. This made Calvin a member of the professional class. Luther had studied philosophy and theology during his university career, but Calvin had humanistic and legal training. Because of this he was more the organizer of Protestantism whereas Luther was its prophetic voice. Luther was physically strong, but Calvin fought illness during the period of his work in Geneva. Luther loved his home and family, but Calvin was essentially a lonely student. Luther, who lived in monarchical Germany, looked for aristocratic and princely support; Calvin, in republican Switzerland, was interested in the development of representative government in the church.’

-Earle E. Cairns, Christianity through the Centuries, 1996, ed 3rd, 300–302.

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi–12

Tín lý về ân điển quyền năng

‘Tín lý về ân điển quyền năng, hay thuyết Calvin căn bản là về sự vĩ đại và uy nghi của Đức Chúa Trời. Điều quan trọng nhất của con người là làm vinh hiển Đức Chúa Trời và tận hưởng Ngài mãi mãi, như Tín Điều Trích lượt Westminster nói đến. Thuyết Calvin đặc biệt liên quan đến sự thảo luận của chúng ta theo hướng này–Đức Chúa Trời là vĩ đại và đáng được ngợi khen. Ngài là Đấng quyền năng và là món quà vĩ đại nhất mà Ngài có thể ban cho người khác. Ngài sẽ không dừng lại để bênh vực cho mình qua sự chết và sự phục sinh của ngôi hai trong ba ngôi Đức Chúa Trời, Chúa Giê-xu-Thần Nhân.’

  • The doctrines of sovereign grace

‘The doctrines of sovereign grace, or Calvinism, are primarily about the greatness and magnificence of God. The chief end of man is to glorify God and enjoy him forever, as the Westminster Shorter Catechism says….’

 

– Đoạn 10, GSiV: Xem chi tiết

Calvin on Election and Predestination–Part 3

What did the great theologian Jean (John) Calvin actually say about these doctrines? Below is one teacher’s wrong teachings about Calvin’s theology.

‘Predestination:  Calvin believed that God made faith available as a gift to every person.  It was the will of God that every person would accept Jesus as Savior by faith.  However, God also knew that not everyone would receive Jesus and be saved.  (Rom. 8:29-30; Eph. 1:5; 1:11)

‘He used numerous scriptures to teach his doctrine of predestination. 

‘Calvin’s followers:  After several years his followers began to take Calvin’s teaching about predestination to the extreme. 

  • ‘One group said that “predestination” means exactly what Calvin taught, that God willed in advance that all people can have faith and can believe in Christ, however not all men will believe and be saved.
  • ‘A second group taught that God willed for certain people to be saved and some to be lost. They also used scriptures to prove this.  They believed that people who are “predestined” to be saved will not be able to deny Christ.  They will accept Jesus and be saved.  God has willed that some people will not accept Jesus.  No matter what they do, they will never accept Jesus and be saved.  This position actually was adopted by most Calvinists and became official Calvinism even though Calvin did not teach this. 

‘Many different groups of churches adopted one or the other of these positions.’

 

Dưới đây là đánh giá sai của một thầy về thần học của Calvin

‘Sự tiền định: Calvin tin rằng Đức Chúa Trời dành sẵn đức tin cho chúng ta như là tặng phẩm Ngài dành cho mọi người. Ý muốn Đức Chúa Trời là mỗi người phải tiếp nhận Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa bởi đức tin. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời cũng biết không phải mọi người đều tiếp nhận Chúa Giê-xu và được cứu. (Rô-ma 8:29-30; Ê-phê-sô 1:5; 1:11)

‘Ông dùng nhiều câu Kinh Thánh để dạy giáo lý của ông về sự tiền định.

‘Môn đồ của Calvin: Sau vài năm, môn đồ ông bắt đầu đưa lời dạy của Calvin về sự tiền định, tới chỗ cực đoan.

  • ‘Một nhóm bảo rằng tiền định có nghĩa chính xác như Calvin đã dạy, rằng Đức Chúa Trời đã định trước cho mọi người đều có đức tin và có thể tin Đấng Cơ Đốc, tuy nhiên không phải mọi người đều tin và được cứu.
  • ‘Một nhóm thứ hai bảo rằng Đức Chúa Trời muốn một số người nào đó được cứu và một số bị hư mất. Họ cũng dùng Kinh Thánh để chứng minh điểm này. Họ tin rằng những người đã “tiền định” được cứu, sẽ không có cách từ chối Đấng Cơ Đốc. Họ sẽ tiếp nhận Chúa Giê-xu và được cứu. Đức Chúa Trời muốn một số người nào đó sẽ không tiếp nhận Chúa Giê-xu. Dù có làm gì, họ cũng sẽ không bao giờ tiếp nhận Chúa Giê-xu và được cứu. Quan điểm này thực sự được đa số người theo Calvin chấp nhận và chính thức trở thành thuyết Calvin, dù rằng Calvin không dạy như vậy.

 

‘Nhiều nhóm hội thánh khác nhau đã chấp nhận hoặc quan điểm này hoặc quan điểm kia.’

 

Fortunately, we can read for ourselves what Calvin believed. (Dưới đây là thần học của Calvin.)

 

In summary, Calvin believed that because of sin no one on his own will choose Christ. God in his mercy chose those whom he would one day save. Because God elected (chose) them, they will repent and believe and be saved. Arminianism teaches that God looked down through time and saw that some people would believe, and therefore God choose them based on what he saw them doing. But this was not Calvin’s view.

Calvin on Election and Predestination–Part 2

‘Calvin next taught that salvation is a matter of Unconditional election apart from human merit or divine foreknowledge. Election is based on the sovereign will of God and is a dual predestination of some to salvation and others to condemnation.’

-Earle E. Cairns, Christianity through the Centuries, 1996, ed 3rd, p. 303.

 

‘Kế đó, Calvin dạy rằng sự cứu rỗi là vấn đề của sự chọn lựa vô điều kiện (Unconditional election) không kể đến công đức của con người hay sự biết trước thiên thượng. Sự chọn lựa được căn cứ trên ý muốn tối thượng của Đức Chúa Trời và là sự tiền định kép cho một số người được cứu và một số người bị đoán phạt’

-Earle E. Cairns, Cơ Đốc Giáo Trải Các Thế Kỷ, 2010, p. 342.

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi–11

‘Liên quan tính chính thống, thuyết Calvin bảo vệ tín lý theo Kinh thánh về sự bền lòng của các thánh đồ, hay sự an ninh đời đời, điều quí báu đối với những người Tin lành, đặc biệt như các nhóm Báp-tít. Spurgeon đã nói: “Thuyết Calvin có sức mạnh ôn hòa nhằm giúp giữ vững con người với chân lý quan trọng” (Piper sermon, “Spurgeon,” quoting A Marvelous Ministry, p. 121). Do đó, thuyết Calvin không thể quá tệ hay đi quá xa với tính chính thống của Kinh thánh. Lý do nó bảo vệ sự dạy dỗ này và những sự dạy dỗ khác vì nó đi vào điều cốt lõi, căn nguyên của Kinh thánh–lấy Đức Chúa Trời làm trọng tâm. Các hệ thống như thuyết Arminian tập trung vào con người và truyền giảng trong khi đó thường đánh mất tầm nhìn về sự vĩ đại của Đức Chúa Trời. Thuyết Calvin, bởi ân điển của Đức Chúa Trời, nhìn thấy Đức Chúa Trời vĩ đại hơn tất cả mọi vật và không có điều gì ngăn cản Đức Chúa Trời được vinh hiển. Truyền giảng sẽ bị hạn chế bởi mặc định nhưng không phải vì đó là trọng tâm chính trong mô hình Calvin. Chính xác hơn vì thuyết Calvin tôn cao Đức Chúa Trời trên mọi vật, truyền giảng sẽ có vị trí cao trong một hệ thống như thế. Nhưng đối với tất cả Cơ đốc nhân thích truyền giáo và giữ tín lý về sự đảm bảo đời đời, nhiều người trong số họ khước từ những lẽ thật lớn về tín lý ân điển. Nhưng liệu chính những Cơ đốc nhân này có dành thời gian suy xét điều dạy trong Kinh thánh bảo vệ tín lý về sự đảm bảo đời đời là điều có liên hệ đến những sự dạy dỗ của thuyết Calvin?’

SOME ENGLISH:

‘Concerning orthodoxy, Calvinism protects the biblical doctrine of perseverance of the saints, or eternal security, which has always been precious to Protestants, especially such groups as Baptists. Spurgeon said, “Calvinism has in it a conservative force which helps to hold men to vital truth” (Piper sermon, “Spurgeon,” quoting A Marvelous Ministry, p. 121). Calvinism, thus, can’t be too bad or too far afield from biblical orthodoxy….’

 

– Đoạn 26, GSiV: Xem chi tiết

Calvin on Election and Predestination–Part 1

John Calvin’s summary on election

 

‘The doctrine of Election and Predestination. It is useful, necessary, and most sweet. Ignorance of it impairs the glory of God, plucks up humility by the roots, begets and fosters pride. The doctrine establishes the certainty of salvation, peace of conscience, and the true origin of the Church.’