Discerning what Scripture says: Part 5
Ryrie on non-Lordship: an unbiblical view
‘C. The Fallacy of Making Surrender of Life a Part of the Gospel
‘1. The question. The question is simply this: Does one have to make Christ Lord of his life or be willing to do so in order to be saved? …Simply stated the question is: Does the lack of commitment to the lordship of Christ over the years of one’s life mean a lack of saving faith? …Theologically, then, this says that there were people at Ephesus who became believers in Christ knowing they should give up their use of magic but who did not (some for as long as two years), but who nevertheless were born again. Their salvation did not depend on faith plus submission to the lordship of Christ over their use of magic.
‘3. Some observations. This lordship teaching fails to distinguish salvation from discipleship and makes requirements for discipleship prerequisites for salvation. Our Lord distinguished the two (Luke 14:16–33).’
-Charles Ryrie, Basic Theology, p. 390-391
‘C. Sai Lầm Khi Biến Sự Phó Dâng Đời Sống Thành Một Phần Của Tin Lành
“1. Thắc mắc. Câu hỏi đơn giản là thế nầy: Có phải người ta buộc phải tôn hay sẵn lòng tôn Đấng Christ làm Chúa của đời sống mình thì mới được cứu không?… Câu hỏi đơn giản là: Thiếu phó thác cho quyền tể trị của Chúa trong những năm theo Ngài có phải chính là thiếu đức tin cứu rỗi không?…Như vậy, về mặt thần học, điều nầy nói lên rằng: tại Êphêsô có những người đã trở thành tín đồ Đấng Christ và biết phải từ bỏ việc dùng pháp thuật của mình, nhưng họ đã không bỏ (có người giữ lâu đến hai năm), nhưng dầu vậy họ vẫn là người đã được tái sanh. Sự cứu rỗi của họ đã không tùy thuộc vào “đức tin cộng với sự đầu phục quyền tể trị của Chúa” trên việc họ dùng pháp thuật.
‘3. Một số nhận định khác. Sự dạy dỗ về quyền tể trị của Chúa nầy không phân biệt giữa sự cứu rỗi với công tác môn đồ hóa, và đã biến những đòi hỏi của công tác môn đồ hóa trở thành những điều kiện tiên quyết cho sự cứu rỗi. Chúa chúng ta phân biệt hai việc nầy (Luca 14:16-33).’
-Charles Ryrie, Thần Học Căn Bản, p. 416-418
To Ryrie’s credit, he does quote people who disagree with him. It’s good that he does because here is what one of them says which, is more in line with what Scripture says:
‘Something more than “believing” is necessary to salvation. A heart that is steeled in rebellion against God cannot savingly believe: it must first be broken.… No one can receive Christ as his Saviour while he rejects Him as Lord! It is true the preacher adds that the one who accepts Christ should also surrender to Him as Lord, but he once spoils it by assertion that though the convert fails to do so nevertheless heaven is sure to him. That is one of the devil’s lies.’
‘Để được cứu rỗi, cần phải có thêm điều gì đó nữa ngoài việc “tin.” Một tấm lòng cứng cỏi chống nghịch Đức Chúa Trời thì không thể tin để được cứu được: trước hết nó phải được đập vỡ ra…. Không ai có thể tiếp nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa của mình đang khi từ chối Ngài làm Cứu Chúa của mình! Nhà truyền đạo đã bổ sung đúng khi nói ai tiếp nhận Đấng Christ thì cũng nên đầu phục Ngài là Chúa, nhưng sẽ làm hỏng việc ấy ngay khi ông khẳng định dầu người tin Chúa có không đầu phục đi nữa thì vẫn chắc chắn được vào thiên đàng. Đó là một trong những lời dối trá của Satan.’
Arthur W. Pink, Present-Day Evangelism, p. 14-15 (quoted by Charles Ryrie, Thần Học Căn Bản, p. 417/ Ryrie, Basic Theology, p. 390).
Discerning what Scripture says: Part 4
Erickson on Lordship, Repentance and Salvation: a biblical view
In recent decades the Lord used pastors James M. Boice and John MacArthur to help the church get more grounded on an important theological issue—Does a sinner have to repent when he believes in Jesus? Does he merely trust Jesus as Savior but not Lord? Unfortunately they were responding to Zane Hodges and others like Charles Ryrie who were saying “no.” Boice, MacArthur, and many others responded to clarify what the Bible teaches. Repentance is a part of salvation. Here the respectable Millard Erickson gives us some good biblical insight.
‘From these texts [Genesis 6:6; Exodus 32:14; Job 42:5–6; 2 Chronicles 7:14; Isaiah 59:20; Matt. 21:29; Matt 21:32; Matt. 27:3; Heb. 12:17; Matt. 3:2; Acts 2:38] it is clear that repentance is a prerequisite for salvation…. “In the past God overlooked such ignorance, but now he commands all people everywhere to repent” (Acts 17:30). This last statement is especially significant, for it is universal: “all people everywhere.” Repentance is an ineradicable part of the gospel message.’
‘Khi xem xét vấn đề ăn năn nầy, chúng ta dễ có ấn tượng nó có ý nghĩa quan trọng như một điều kiện tiên quyết để được cứu rỗi…. “Vậy thì Đức Chúa Trời đã bỏ qua các đời ngu muội đó, mà nay biểu hết thảy các người trong mọi nơi đều phải ăn năn” (Công vụ. 17:30). Phần cuối của câu nầy đặc biệt quan trọng vì nó mang tính phổ quát: “hết thảy các người trong mọi nơi.” Vậy thì, không còn nghi ngờ gì nữa, sự ăn năn là một phần không thể bỏ đi được của sứ điệp Phúc Âm.’
-M. J. Erickson, Christian Theology, 3rd ed., 2013, p. 867-868 / Erickson, Thần Học Cơ Đốc Giáo, Sách 2, p. 288.
Regeneration, God’s Grace, New Birth–Part 1
Charles Spurgeon says, “Sinner, unconverted sinner, I warn thee thou canst never cause thyself to be born again, and though the new birth is absolutely necessary, it is absolutely impossible to thee, unless God the Spirit shall do it….” [vol 3, year 1858, 340]
LANGUAGE UPDATE: “Sinner, unconverted sinner, I warn you that you can never cause yourself to be born again, and though the new birth is absolutely necessary, it is absolutely impossible to you, unless God the Spirit shall do it….”
-Quoted in Murray, Iain. The Forgotten Spurgeon. p. 87
How Free is the Will?
Philadelphia Baptist Confession of Faith (1742)
Chapter 9: Of Free Will
- God hath endued the will of man with that natural liberty and power of acting upon choice, that it is neither forced, nor by any necessity of nature determined to do good or evil.[1 ]
- Man, in his state of innocency had freedom, and power, to will, and to do, that which was good, and well-pleasing to God;[2] but yet was mutable, so that he might fall from it.[3]
- Man, by his fall unto a state of sin, hath wholly lost all ability of will to any spiritual good accompanying salvation;[4] so as a natural man, being altogether averse from that good and dead in sin,[5] is not able, by his own strength, to convert himself or to prepare himself thereunto.[6]
- When God converts a sinner, and translates him into the state of grace, He freeth him from his natural bondage under sin,[7] and by His grace alone, enables him freely to will, and do that which is spiritually good;[8] yet so that, by reason of his remaining corruptions, he doth not perfectly nor only will that which is good, but doth also will that which is evil.[9]
- The will of man is made perfectly and immutably free to good alone in the state of glory only.[10]
Footnotes: 1. Mt 17:12; Jas 1:14; Dt 30:19; 2. Ecc 7:29; 3. Ge 3:6; 4. Ro 5:6; 8:7; 5. Eph 2:1,5; 6. Tit 3:3-5; Jn 6:44; 7. Col 1:13; Jn 8:36; 8. Php 2:13; 9. Ro 7:15,18-19,21,23; 10. Eph 4:13.
Tuyên Xưng Philadelphia (1742)
Đoạn 9: Về ý chí tự do
- Đức Chúa Trời đã phú cho con người bản chất tự do và năng lực hành động theo sự chọn lựa chủ quan, tức không hề bị thúc ép, cũng không phải bởi [a] một khuynh hướng hoặc thiện, hoặc ác nào quyết định.
- Trong trạng thái vô tội uyên nguyên con người đã từng có sự tự do và năng lực ý chí để làm theo những gì tốt và đẹp ý Đức Chúa Trời, nhưng năng lực và ý chí ấy ấy không hề bị cưỡng buộc cho nên con người không thể cứ luôn luôn làm theo điều tốt và làm điều đẹp ý Đức Chúa Trời.
- Trong trạng thái sa bại trong tội lỗi loài người đã mất hẳn [d] năng lực chọn lựa làm theo điều thiện là điều sẽ có sau khi đã được cứu cho nên người chưa được cứu không có khuynh hướng làm theo điều thiện cách tự nhiên, họ [e] đang chết trong tội lỗi mình, họ không có năng lực [f] tự biến cải mình hoặc tự chuẩn bị mình cho sự biến cải hướng về sự thiện hảo.
- Khi Đức Chúa Trời biến cải một tội nhân và đem người ấy vào trong ân điển Ngài thì [g] Ngài giải thoát họ khỏi ách tội vốn có, và chỉ duy nhất bằng ân điển của Ngài mà Đức Chúa Trời giải thoát họ để họ biết [h] vừa muốn vừa làm theo các sự thiện hảo thuộc linh; dẫu vậy, vì cớ [i] sức mạnh của tội lỗi vẫn cứ còn trong con người mình mà họ vẫn chưa được hoàn hảo và họ không chỉ muốn làm điều thiện mà cũng lại còn còn muốn làm theo điều ác nữa.
- Bản chất tự do và năng lực hành động [k] hoàn toàn theo điều thiện của con người chỉ được tái lập trong trạng thái vinh hiển khi họ được ở trong sự vinh hiển của Đức Chúa Trời mà thôi.
Lời chú ở cuối trang: [a] Ma. 17:12; Gia. 1:14; Phục. 30:19; [b] Truyền. 7:29; [c] Sáng. 3:6; [d] Rô. 5:6; 8:7; [e] Êph. 2:1, 5; [f] Tít 3:3, 4, 5; Gi. 6:44; [g] Côl. 1:13; Gi. 8:36; [h] Php. 2:13; [i] Rô. 7:15, 18, 19, 21, 22, 23; [k] Êph. 4:13
To the Ends of the Earth
“Does a belief in sovereign grace stymie missions and evangelism? If that belief is rightly understood and rightly applied, the answer is an emphatic no….”
-Jason K. Allen, President, Midwestern Baptist Theological Seminary and College
Too often those who least understand the biblical doctrine of Calvinism accuse Calvinists of a non-evangelistic spirit and practice. We do often wonder how frequently those same accusers share their faith with the lost. Nonetheless, the more we study church history the more we see that a life centered on God’s glory leads to passion and boldness for Christ’s mission.
To the Ends of the Earth: Calvin’s Missional Vision and Legacy
By Michael A. G. Haykin & C. Jeffrey Robinson Sr.
Table of Contents
- For God So Loved the World”: John Calvin’s Missional Exegesis
- A Sacrifice Well Pleasing to God”: The Dynamics of John Calvin’s Theology of Mission
- How Very Important This Corner Is”: The Calvinistic Missions to France and Brazil
- To Convert the World”: The Puritans and Being Missional in the Seventeenth Century
- Advancing the Kingdom of Christ”: Missional Praying—the Example of Jonathan Edwards
- An Instrument of Establishing the Empire of My Dear Lord”: Developing a Missional Passion—the Way of Samuel Pearce
(Tại GSiV Xem chi tiết đoạn 24)
Calvinism: fan a flame for God’s glory in missions
Calvinism usually fans flame of missions
- Michael Haykin. “A Sacrifice Well Pleasing To God: John Calvin And The Missionary Endeavor Of The Church.” Founders Journal. 75/Winter 2009.
- Ken Stewart. “Calvinism and Missions: The Contested Relationship Revisited.” Themelios 34, no. 1 (2009): 63-78.
Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi–8
‘Thông thường, người không theo phái Calvin, hay Arminian vì thiếu một danh xưng tốt hơn, nhận thức cách sai lầm rằng học thuyết năm điểm thuyết Calvin là học thuyết Calvin cực đoan (thái quá; hyper-Calvinism). Học thuyết Calvin cực đoan dạy rằng phúc âm không nên giảng cho tất cả mọi người vì những người không được chọn có thể nghe phúc âm không dành cho họ. Nhưng thuyết Calvin cực đoan là không theo Kinh thánh và Kinh thánh dạy rằng tín hữu có đặc ân và trách nhiệm công bố phúc âm cho tất cả mọi người, và kêu gọi mọi người ăn năn tin Chúa Cứu Thế Giê-xu. Tuy nhiên, một người theo thuyết năm điểm của Calvin tin rằng một số người nghe là người được chọn và một số thì không. Có người nằm trong số đó, có người thì không. Đó là việc Đức Chúa Trời biết và biến đổi lòng họ. Nhưng người theo Calvin không ngại chia sẻ phúc âm với tất cả những người mình gặp và mời gọi họ ăn năn. Spurgeon kiên trì chống lại những tín lý nguy hiểm của những người Calvin cực đoan trong thời của ông và chúng ta cũng làm như vậy. (See Murray’s book Spurgeon v. Hyper Calvinism. See also Johnson’s, “A Primer on Hyper-Calvinism.”) “Nhưng chúng ta đừng lẫn lộn giữa một người nhiệt thành theo năm điểm của người Calvin với một người theo Calvin cực đoan.”’
SOME ENGLISH:
‘Often non-Calvinists, or Arminians for lack of a better name, wrongly assume that five-point Calvinism is the same as hyper Calvinism. Hyper Calvinism teaches that the gospel shouldn’t be proclaimed to all because the non-elect may hear the gospel which isn’t for them….’
– Đoạn 19, GSiV: Xem chi tiết
Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi–7
‘Lời chứng về ân điển của Đức Chúa Trời
‘Trong thần học cải chánh hay phái Calvin sâu sắc hơn năm điểm như người ta thường biết đến, thật hữu ích để trình bày những điểm này tại đây, thứ nhất theo hình thức lời chứng thực tế, và chúng cũng khách quan rõ ràng qua các nhiều thế kỷ:
‘Mặc dù được mang hình ảnh của Đức Chúa Trời trước khi tôi được Chúa Cứu Thế cứu tôi, tôi hoàn toàn bị hư mất trong tội lỗi mình, hư hỏng bởi tội lỗi, tôi không hề chọn Đức Chúa Trời cho mình. Trên thực tế, tôi đã chết trong tội lỗi. Đức Chúa Trời, trong sự thương xót của Ngài, đã chọn tôi trong quá khứ từ trước khi thế gian bắt đầu, không phải vì Ngài thấy tôi sẽ tin. Điều đó đã đặt tôi vào trong sự cứu rỗi. Tôi đã không thể tin khi tôi còn chết trong tội lỗi mình. Ngài muốn tôi tin để nhận được mọi ẩn điển. Khi Chúa Giê-xu chết trên thập tự giá, Ngài không chỉ khiến tôi được cứu, thành một tín hữu tiềm năng. Không, Ngài đã chết cho tôi và tất cả mọi người được chọn trong quá khứ lẫn tương lai. Huyết Chúa Giê-xu thật đã trả hết cho nợ tội của tôi. Khi thời điểm đã đến, Đức Chúa Trời đã tái sanh tấm lòng tôi, khiến tôi sống lại từ trong tội lỗi mình bởi việc tái tạo tấm lòng đã chết của tôi, tôi đã muốn điều Đức Chúa Trời muốn cho tôi–chính Ngài. Tôi đã không thể chọn Ngài hay sự cứu rỗi của Ngài nếu Ngài không chọn tôi trước. Điều đó hoàn toàn chỉ bởi ân điển vì tôi chỉ xứng đáng với địa ngục. Bây giờ tôi thực sự đã được cứu vào trong gia đình của Đấng Christ qua sự ăn năn và đức tin, ân điển của Đức Chúa Trời giúp tôi đươc cứu. Tôi có thể chạy vì Chúa Giê-xu đã chạy và chịu đựng cho đến đổ huyết. Chúa Giê-xu sẽ không hề bỏ tôi, như Ngài đã phán: “Phàm những kẻ Cha cho ta sẽ đến cùng ta, kẻ đến cùng ta thì ta không bỏ ra ngoài đâu” (Giăng 6:37)’
SOME ENGLISH:
Testimony of God’s grace
‘While reformed theology, or Calvinism, is deeper than just the five points it is often known for, it’s helpful to lay out these points here, first, in practical testimonial form, then as they have been more objectively defined through the centuries:
‘Despite being in God’s image before Christ saved me, I was so lost in my sin, so tainted by it, that I never would choose God on my own. In fact, I was dead in sin….’
– Đoạn 14-15, GSiV: Xem chi tiết
Free will and human responsibility: not the same
“The error of Arminianism is not that it holds the biblical doctrine of responsibility but that it equates this doctrine with an unbiblical doctrine of ‘free-will’ and preaches the two things as though they were synonymous. But man’s will is always exercised in harmony with his nature and, as his nature is at enmity to God, so is his will. Man being fallen, his will cannot be neutral or ‘free’ to act contrary to his nature…. Man’s spiritual inability is due solely to his sin and therefore it in no way lessens his responsibility. That man must be able to believe and repent in order to be responsible for unbelief and impenitency is a philosophical conception nowhere found in Scripture; in fact it is directly contrary to Scripture because, if responsibility were to be measured by ability, then it would mean that the more sinful a man becomes the less he is responsible!”
-Iain Murray’s The Forgotten Spurgeon, 1994, 61-62
Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi–6
‘Như vậy chúng ta rõ ràng từ đầu rằng nhà truyền giáo Spurgeon là một người theo Calvin, có rất nhiều bằng chứng:
- ‘“Tôi có ý kiến riêng của mình rằng không có gì bằng việc giảng Đấng Christ và việc bị đóng đinh của Ngài trừ phi chúng ta giảng điều mà thời nay gọi là thuyết Calvin. Đó là tên thông dụng gọi là phái Calvin; thuyết Calvin là về phúc âm, và không có gì khác. Tôi không tin chúng ta có thể giảng Phúc âm… trừ phi chúng ta giảng về quyền năng của Đức Chúa Trời trong sự tha thứ của ân điển Ngài; hay trừ phi chúng ta tôn cao Đấng được chọn, không hề thay đổi, đời đời, trường tồn, tình yêu chiến thắng của Đức Giê-hô-va; hay tôi không nghĩ chúng ta có thể giảng phúc âm trừ phi chúng ta đặt nó trên sự cứu chuộc đặc biệt của những người được chọn của Ngài mà Đấng Christ đã thực hiện trên thập tự giá; tôi cũng không hiểu một phúc âm đã cho phép các thánh đồ sa ngã sau khi họ được kêu gọi.” (Packer, Quest, p. 345, note 7, quoting Spurgeon, The Early Years, Autobiography, 172.)’
SOME ENGLISH:
‘So that we’re clear from the beginning that the evangelistic Spurgeon was a Calvinist, here is overwhelming proof:
- ‘“I have my own private opinion that there is no such thing as preaching Christ and him crucified, unless we preach what is nowadays called Calvinism. It is a nickname to call it Calvinism; Calvinism is the gospel, and nothing else….’ (Packer, Quest, p. 345, note 7, quoting Spurgeon, The Early Years, Autobiography, p. 172.)
– Đoạn 12, GSiV: Xem chi tiết
TULIP & GOSPEL
I recently came across an interesting suggestion. Read here and see what you think:
“So, what is the suggested acronym? G.O.S.P.E.L. What better way to make reference to the Doctrines of Grace? Calvinism, after all, is about the sovereign grace of God in the Gospel of Jesus Christ. The Doctrines of Grace are the biblical teachings regarding G.O.S.P.E.L. grace and glory. Allow me, therefore, to supply a brief explanation of this acronym.
“G.O.S.P.E.L.
“God’s Glory: Foundational to the Doctrines of Grace is the biblical teaching that God’s redeeming work is to the praise of His glorious grace (Eph. 1:3-14 especially vv. 6, 12; Rom. 11:33-36).
“G.O.S.P.E.L.
“Original Sin: This point replaces Total Depravity in T.U.L.I.P. The doctrine of original sin is greatly lost in our day, which is one good reason for making this change.
G.O.S.P.E.L
“Sovereign Election: This point replaces Unconditional Election in T.U.L.I.P. The point of unconditional election is that God’s choice of His redeemed people was not rooted in anything they have done, but simply in the sovereign and good purposes of God (otherwise it’s not grace).
“G.O.S.P.E.L.
“Particular Atonement: This point replaces Limited Atonement in T.U.L.I.P. We Calvinists are often forced to clarify the meaning of limited atonement, and our clarifications nearly always include the use of the word ‘particular’.
“G.O.S.P.E.L.
“Effectual Grace: This point replaces irresistible grace in T.U.L.I.P. Like the previous point, I believe this point will also provide much needed clarification.
“G.O.S.P.E.L.
“Lasting Grace: This point replaces Perseverance of the Saints in T.U.L.I.P.”
Read the rest here reformedbaptistdaily
Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi–5
‘Charles Spurgeon đã đi theo thuyết Calvin mà chúng ta sẽ bàn đến ở đây. Ông nói: “Đối với tôi, Calvin cho rằng cương vị của Đức Chúa Trời đời đời là ở đầu của mọi sự. Tôi quan sát mọi thứ qua sự liên hệ của nó với sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Tôi nhìn thấy Đức Chúa Trời trước tiên, và kế đến là con người… Thưa anh chị em, nếu chúng ta sống trong sự cảm thông với Đức Chúa Trời, chúng ta vui mừng nghe Ngài phán: “Ta là Đức Chúa Trời và chẳng có Đấng nào khác” (Piper sermon, “Spurgeon,” quoting An All Round Ministry, p. 337).’
SOME ENGLISH:
‘Charles Spurgeon embraced the kind of Calvinism we’re going to be discussing here. He said, “To me, Calvinism means the placing of the eternal God at the head of all things….”’
– Đoạn 11, GSiV: Xem chi tiết









