QUYỀN NĂNG CAO CẢ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI Ở VIỆT NAM (Ê-phê 1:4-5)

Common Questions the Doctrine of Election Raises

In an article titled “3 Objections to the Doctrine of Election,” Tim Keller makes some key points:

‘1. If you believe in election, doesn’t that leave you with the problem of why God doesn’t choose to save everyone?

 

  • ‘Yes, but the same is true for Christians who don’t believe in election. Election doesn’t create the problem, it only leads us to think about it….

 

‘2. But if everything is fixed and certain, why pray, evangelize, or do anything at all?

 

  • ‘This objection is short-sighted. First, if everything was not planned by a holy and loving God, we’d be absolutely terrified by the prospect of even getting up in the morning….

 

‘3. I believe the Bible and I see all the teaching about election, but why do I still dislike it?

 

  • ‘My theory is that the biblical gospel is so supernatural that it always combines qualities that by natural reason and culture we cannot keep together….’

 

Read the whole thing here

Calvin on Election and Predestination–Part 2

‘Calvin next taught that salvation is a matter of Unconditional election apart from human merit or divine foreknowledge. Election is based on the sovereign will of God and is a dual predestination of some to salvation and others to condemnation.’

-Earle E. Cairns, Christianity through the Centuries, 1996, ed 3rd, p. 303.

 

‘Kế đó, Calvin dạy rằng sự cứu rỗi là vấn đề của sự chọn lựa vô điều kiện (Unconditional election) không kể đến công đức của con người hay sự biết trước thiên thượng. Sự chọn lựa được căn cứ trên ý muốn tối thượng của Đức Chúa Trời và là sự tiền định kép cho một số người được cứu và một số người bị đoán phạt’

-Earle E. Cairns, Cơ Đốc Giáo Trải Các Thế Kỷ, 2010, p. 342.

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi–11

‘Liên quan tính chính thống, thuyết Calvin bảo vệ tín lý theo Kinh thánh về sự bền lòng của các thánh đồ, hay sự an ninh đời đời, điều quí báu đối với những người Tin lành, đặc biệt như các nhóm Báp-tít. Spurgeon đã nói: “Thuyết Calvin có sức mạnh ôn hòa nhằm giúp giữ vững con người với chân lý quan trọng” (Piper sermon, “Spurgeon,” quoting A Marvelous Ministry, p. 121). Do đó, thuyết Calvin không thể quá tệ hay đi quá xa với tính chính thống của Kinh thánh. Lý do nó bảo vệ sự dạy dỗ này và những sự dạy dỗ khác vì nó đi vào điều cốt lõi, căn nguyên của Kinh thánh–lấy Đức Chúa Trời làm trọng tâm. Các hệ thống như thuyết Arminian tập trung vào con người và truyền giảng trong khi đó thường đánh mất tầm nhìn về sự vĩ đại của Đức Chúa Trời. Thuyết Calvin, bởi ân điển của Đức Chúa Trời, nhìn thấy Đức Chúa Trời vĩ đại hơn tất cả mọi vật và không có điều gì ngăn cản Đức Chúa Trời được vinh hiển. Truyền giảng sẽ bị hạn chế bởi mặc định nhưng không phải vì đó là trọng tâm chính trong mô hình Calvin. Chính xác hơn vì thuyết Calvin tôn cao Đức Chúa Trời trên mọi vật, truyền giảng sẽ có vị trí cao trong một hệ thống như thế. Nhưng đối với tất cả Cơ đốc nhân thích truyền giáo và giữ tín lý về sự đảm bảo đời đời, nhiều người trong số họ khước từ những lẽ thật lớn về tín lý ân điển. Nhưng liệu chính những Cơ đốc nhân này có dành thời gian suy xét điều dạy trong Kinh thánh bảo vệ tín lý về sự đảm bảo đời đời là điều có liên hệ đến những sự dạy dỗ của thuyết Calvin?’

SOME ENGLISH:

‘Concerning orthodoxy, Calvinism protects the biblical doctrine of perseverance of the saints, or eternal security, which has always been precious to Protestants, especially such groups as Baptists. Spurgeon said, “Calvinism has in it a conservative force which helps to hold men to vital truth” (Piper sermon, “Spurgeon,” quoting A Marvelous Ministry, p. 121). Calvinism, thus, can’t be too bad or too far afield from biblical orthodoxy….’

 

– Đoạn 26, GSiV: Xem chi tiết

How Free is the Will?

Philadelphia Baptist Confession of Faith (1742)

Chapter 9: Of Free Will

  1. God hath endued the will of man with that natural liberty and power of acting upon choice, that it is neither forced, nor by any necessity of nature determined to do good or evil.[1 ]
  2. Man, in his state of innocency had freedom, and power, to will, and to do, that which was good, and well-pleasing to God;[2] but yet was mutable, so that he might fall from it.[3]
  3. Man, by his fall unto a state of sin, hath wholly lost all ability of will to any spiritual good accompanying salvation;[4] so as a natural man, being altogether averse from that good and dead in sin,[5] is not able, by his own strength, to convert himself or to prepare himself thereunto.[6]
  4. When God converts a sinner, and translates him into the state of grace, He freeth him from his natural bondage under sin,[7] and by His grace alone, enables him freely to will, and do that which is spiritually good;[8] yet so that, by reason of his remaining corruptions, he doth not perfectly nor only will that which is good, but doth also will that which is evil.[9]
  5. The will of man is made perfectly and immutably free to good alone in the state of glory only.[10]

Footnotes: 1. Mt 17:12; Jas 1:14; Dt 30:19; 2. Ecc 7:29; 3. Ge 3:6; 4. Ro 5:6; 8:7; 5. Eph 2:1,5; 6. Tit 3:3-5; Jn 6:44; 7. Col 1:13; Jn 8:36; 8. Php 2:13; 9. Ro 7:15,18-19,21,23; 10. Eph 4:13.

Link in English

Tuyên Xưng Philadelphia (1742)

Đoạn 9: Về ý chí tự do

  1. Đức Chúa Trời đã phú cho con người bản chất tự do và năng lực hành động theo sự chọn lựa chủ quan, tức không hề bị thúc ép, cũng không phải bởi [a] một khuynh hướng hoặc thiện, hoặc ác nào quyết định.
  2. Trong trạng thái vô tội uyên nguyên con người đã từng có sự tự do và năng lực ý chí để làm theo những gì tốt và đẹp ý Đức Chúa Trời, nhưng năng lực và ý chí ấy ấy không hề bị cưỡng buộc cho nên con người không thể cứ luôn luôn làm theo điều tốt và làm điều đẹp ý Đức Chúa Trời.
  3. Trong trạng thái sa bại trong tội lỗi loài người đã mất hẳn [d] năng lực chọn lựa làm theo điều thiện là điều sẽ có sau khi đã được cứu cho nên người chưa được cứu không có khuynh hướng làm theo điều thiện cách tự nhiên, họ [e] đang chết trong tội lỗi mình, họ không có năng lực [f] tự biến cải mình hoặc tự chuẩn bị mình cho sự biến cải hướng về sự thiện hảo.
  4. Khi Đức Chúa Trời biến cải một tội nhân và đem người ấy vào trong ân điển Ngài thì [g] Ngài giải thoát họ khỏi ách tội vốn có, và chỉ duy nhất bằng ân điển của Ngài mà Đức Chúa Trời giải thoát họ để họ biết [h] vừa muốn vừa làm theo các sự thiện hảo thuộc linh; dẫu vậy, vì cớ [i] sức mạnh của tội lỗi vẫn cứ còn trong con người mình mà họ vẫn chưa được hoàn hảo và họ không chỉ muốn làm điều thiện mà cũng lại còn còn muốn làm theo điều ác nữa.
  5. Bản chất tự do và năng lực hành động [k] hoàn toàn theo điều thiện của con người chỉ được tái lập trong trạng thái vinh hiển khi họ được ở trong sự vinh hiển của Đức Chúa Trời mà thôi.

Lời chú ở cuối trang: [a] Ma. 17:12; Gia. 1:14; Phục. 30:19; [b] Truyền. 7:29; [c] Sáng. 3:6; [d] Rô. 5:6; 8:7; [e] Êph. 2:1, 5; [f] Tít 3:3, 4, 5; Gi. 6:44; [g] Côl. 1:13; Gi. 8:36; [h] Php. 2:13; [i] Rô. 7:15, 18, 19, 21, 22, 23; [k] Êph. 4:13

Link bằng Tiếng Việt

 

Discerning what Scripture says: Part 2

Here’s some bad theology:

 

‘The One True God allows every person to choose spiritual light or spiritual darkness. Through his Spirit he is always trying to help people understand his wonderful message: My Son, Jesus Christ, is the light of the world. “The person who follows him shall not live in darkness, but shall have the light of life.”’

 

‘Đức Chúa Trời Chân Thật duy nhất đã cho phép mọi người quyền tự do lựa chọn để sống trong sự sáng hay trong sự mù lòa về thuộc linh. Qua Đức Thánh Linh, Ngài giúp chúng ta hiểu được sứ điệp mầu nhiệm của Ngài: “Chúa Giê-xu, Con Ngài là sự sáng của thế gian. Những ai tin theo Ngài thì không sống trong tối tăm nhưng có ánh sáng của sự sống.”’

 

The section that says, “My Son, Jesus Christ…” is great. But the part about “God allows” and “he is trying to help” gives the false view that God is helpless, depending on the decisions of humans. If he didn’t change our hearts and open our eyes, no one would believe. We choose him because he has first chosen us. But God isn’t helpless in the process.

 

-“The Light of the World,” Book 2, p. 14-15

 

(Xem chi tiết Đoạn 42, GSiV)

 

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi–5

Charles Spurgeon đã đi theo thuyết Calvin mà chúng ta sẽ bàn đến ở đây. Ông nói: “Đối với tôi, Calvin cho rằng cương vị của Đức Chúa Trời đời đời là ở đầu của mọi sự. Tôi quan sát mọi thứ qua sự liên hệ của nó với sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Tôi nhìn thấy Đức Chúa Trời trước tiên, và kế đến là con người… Thưa anh chị em, nếu chúng ta sống trong sự cảm thông với Đức Chúa Trời, chúng ta vui mừng nghe Ngài phán: “Ta là Đức Chúa Trời và chẳng có Đấng nào khác” (Piper sermon, “Spurgeon,” quoting An All Round Ministry, p. 337).’

SOME ENGLISH:

 ‘Charles Spurgeon embraced the kind of Calvinism we’re going to be discussing here. He said, “To me, Calvinism means the placing of the eternal God at the head of all things….”’

– Đoạn 11, GSiV: Xem chi tiết

 

 

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi–4

‘Hãy xem vấn đề theo một cách khác:

  • ‘Sự tái sanh (sanh lại)–chúng ta thụ động (Đức Chúa Trời làm tất cả và không có sự hợp tác từ chúng ta).
  • Sự ăn năn (qui đạo)–chúng ta chủ động: Ý chí của chúng ta dự phần nhưng chỉ khi Đức Chúa Trời muốn nó (vận hành trong sự phối hợp với Đức Chúa Trời).
  • Đức tin (qui đạo)–chúng ta chủ động: Ý chí của chúng ta dự phần nhưng chỉ khi Đức Chúa Trời muốn nó (vận hành trong sự phối hợp với Đức Chúa Trời).’

SOME ENGLISH:

‘Here’s another way to look at it:

  • ‘Regeneration (new birth)—we are passive (all God and no cooperation from us).
  • Repentance (conversion)—we are active: our will is involved but only as God has first willed it (working in cooperation with God)….’

 

– Đoạn 49, GSiV: Xem chi tiết

Promises and Sovereignty

“…God’s promises are only as good as the extent of his sovereignty.”

 

-Paul D. Tripp, New Morning Mercies, March 23

 

 

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi–3

Ý chí tự do của con người

‘Chúng ta hãy xem liệu ý chí tự do của con người gây mâu thuẫn hay làm sáng tỏ sự thảo luận về sự cứu rỗi. Con người không có quyền quyết định sự ra đời về thể phương diện thể xác, về nơi sinh, cha mẹ của mình là ai, mình sẽ qua đời khi nào và như thế nào; vì thế Rô-ma 9:16 nói rằng: “Vậy điều đó chẳng phải bởi người nào ao ước hay người nào bôn ba mà được, bèn là bởi Đức Chúa Trời thương xót,” vấn đề này không nằm trong ý chí tự do của con người. (Có ai phản đối sự dạy dỗ của Mác 13:22 rằng các tiên tri giả sẽ không thể làm lạc đường những người được chọn? Ai chống lại Đức Chúa Trời lấy đi khả năng phạm tội của chúng ta trên thiên đàng?) Nếu vấn đề là mọi thứ sẽ giống như là, quyền năng của Đức Chúa Trời và trách nhiệm của con người trước mặt Chúa. Mặc khác, dù con người mang hình ảnh của Đức Chúa Trời, mà con người vẫn đầy tội lỗi. Chúng ta phạm tội vì chúng ta là những tội nhân (Tít 1:15). Nhưng ngay cả cho mọi sự như quyền năng của Đức Chúa Trời và trách nhiệm của con người trước Đức Chúa Trời thì cũng không đúng lắm. Thế thì, công thức đúng là gì?’

SOME ENGLISH:

Man’s free will

‘Let’s consider if man’s free will is a contradiction or a clarification to the discussion of salvation. Man isn’t in charge of being born physically, where he’s born, who his parents are, or when and how he dies….’

 

– Đoạn 42, GSiV: Xem chi tiết

Were designated / Bị định đoán phạt từ lâu rồi

Jude 4 “For certain people have crept in unnoticed who long ago were designated for this condemnation, ungodly people, who pervert the grace of our God into sensuality and deny our only Master and Lord, Jesus Christ.”

Giu-đe 1:4 Vì có mấy kẻ kia lẻn vào trong vòng chúng ta là những kẻ bị định đoán phạt từ lâu rồi, kẻ chẳng tin kính đổi ơn Đức Chúa Trời chúng ta ra việc tà ác, chối Đấng Chủ tể và Chúa có một của chúng ta, là Đức Chúa Jêsus Christ.

 

Xem chi tiết: “Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi: Tín Lý Về Ân Điển Quyền Năng” (“God and Salvation: The Doctrines of Sovereign Grace”)

Death and Satan

“Satan cannot part you from your portion. God has him in a chain, and like a dog without teeth, he may bark, yet he can never bite. At death, your portion will swim out with you in that shipwreck. Death parts all other portions from the sons of men, but give you your full portion. Then will you know your potion’s true worth. When fire burns up the world in will not even singe your portion. You may stand upon the ruins of the world and sing: I have lost nothing, I have my inheritance, my happiness [joy], and my God still.”

 

-George Swinnock, Works, IV:41-43 (Voices from the Past, Sept 25, p. 269; ed. Richard Rushing)

 

Xem chi tiết: “Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi: Tín Lý Về Ân Điển Quyền Năng” (“God and Salvation: The Doctrines of Sovereign Grace”)

Deaths Predetermined, Controlled by God

Revelation 6:11 “Then they were each given a white robe and told to rest a little longer, until the number of their fellow servants and their brothers should be complete, who were to be killed as they themselves had been.”

Khải-huyền 6:11 Có kẻ bèn cho họ mỗi người một cái áo trắng dài; và có lời phán rằng phải ở yên ít lâu nữa, cho đến khi được đủ số người cùng làm việc và anh em mình phải bị giết như mình vậy.

 

Xem chi tiết: “Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi: Tín Lý Về Ân Điển Quyền Năng” (“God and Salvation: The Doctrines of Sovereign Grace”)