QUYỀN NĂNG CAO CẢ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI Ở VIỆT NAM (Ê-phê 1:4-5)

Philadelphia Baptist Confession of Faith–part 6

Chương thứ nhất: “Giáo Lý Về Kinh Thánh”

Điều 5

Chúng ta luôn được thuyết phục mạnh mẽ theo sự xác chứng của Hội Thánh của Đức Chúa Trời đến mức có được một sự tôn trọng cao độ đối với Kinh Thánh; và tính thiêng liêng của vấn đề, tính hữu hiệu của các giáo lý, tính uy nghi của các sự giáo huấn, tính nhất trí giữa các phần với nhau, tính bao quát trên phương diện đề cập – và tất cả những sự này đều thuộc về sự vinh hiển của Đức Chúa Trời – hợp thành một sự bày tỏ về con đường cứu chuộc duy nhất cho nhân loại mà trong đó tất cả đều tuyệt vời, đều hoàn hảo khiến phải dẫn đến kết luận rằng Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời để rồi chúng ta đi đến một sự chứng giải khiến tin quyết hoàn toàn rằng Kinh Thánh là lẽ thật bất bại theo thẩm quyền Thiên Thượng bởi sự vận hành của Đức Thánh Linh thành Lời Ngài cho tấm lòng chúng ta.

Tuyên Xưng Philadelphia (1742)

(GSiV: A Few Confessions of Faith in Vietnamese; Inerrancy)

Five more points for Calvinists: “Doctrines of Graciousness”

Here’s an article (on a different kind of ‘TULIP’) that can apply to many of our lives right away:

T — Total Humility

“God opposes the proud but gives grace to the humble.” (James 4:6; 1 Peter 5:5)

U — Unconditional Kindness

Be kind to one another, tenderhearted, forgiving one another, as God in Christ forgave you. (Ephesians 4:32)

L — Limited Criticism

The Lord’s servant must not be quarrelsome but kind to everyone, . . . correcting his opponents with gentleness. (2 Timothy 2:24–25)

I — Irresistible Graciousness

Let your speech always be gracious. (Colossians 4:6)

P — Perseverance in Patience

Be patient with them all. (1 Thessalonians 5:14)

-David Mathis

Read the whole post here

(GSiV: A Mindset All Reformed Folks Need; Unity; Ray Ortlund; The other TULIP)

Philadelphia Baptist Confession of Faith–part 5

Chương thứ nhất: “Giáo Lý Về Kinh Thánh”

Điều 4

Thẩm quyền phải tuân theo của Kinh Thánh không hề do sự quả quyết của bất cứ người nào hay của bất cứ Giáo Hội nào mà là được dựa theo Đức Chúa Trời là Đấng tự chứng rằng Ngài là Tác Giả của Kinh Thánh để Kinh Thánh phải được tin nhận là chính Lời Ngài.

Tuyên Xưng Philadelphia (1742)

(GSiV: A Few Confessions of Faith in Vietnamese; Inerrancy)

Humility is not…

‘1. Humility Isn’t Hiding.

‘2. Humility Isn’t Self-Hatred.

  • ‘Humility’s Acid Test
  • ‘Great Model of Humility

‘It’s the joy of thinking about yourself less, and about Jesus more.’

-Gavin Ortlund

Read the whole thing here

(GSiV: Humility; A Mindset All Reformed Folks Need; Unity)

Humility is the growing ability to…

‘Humility is the growing ability to see God as he really is and myself as I really am–and the first thing a person growing in humility sees and hates is their pride. This is the only kind of person motivated to pursue resources on humility.’

-William P. Farley

Read the whole thing here

(GSiV: Humility; A Mindset All Reformed Folks Need; Unity)

Philadelphia Baptist Confession of Faith–part 4

Chương thứ nhất: “Giáo Lý Về Kinh Thánh”

Điều 3

Các sách ngụy kinh (Apocrypha) không hề được thần cảm, cũng không thuộc các kinh điển của Kinh Thánh, cho nên các sách này không hề có thẩm quyền trên Hội Thánh của Đức Chúa Trời, cũng như không thể được bất cứ ai kể là có thẩm quyền đối với Hội Thánh của Đức Chúa Trời mà phải được xem như là những văn phẩm thuần túy của con người tạo ra.

Tuyên Xưng Philadelphia (1742)

 (GSiV: A Few Confessions of Faith in Vietnamese; Inerrancy)

Philadelphia Baptist Confession of Faith–part 3

Chương thứ nhất: “Giáo Lý Về Kinh Thánh”

Điều 2

Với tên gọi là “Kinh Thánh”, tức Lời Thành Văn Của Đức Chúa Trời, Kinh Thánh chứa tất cả các Sách Cựu Ước và các Sách Tân Ước như sau:

Các Sách Cựu Ước:

  • Sáng Thế Ký, Xuất Êdíptô Ký, Lêvi Ký, Dân Số Ký, Phục Truyền Luật Lệ Ký, Giôsuê, Các Quan Xét, Rutơ, 1 Samuên, 2 Samuên, 1 Các Vua, 2 Các Vua, 1 Sử Ký, 2 Sử Ký, Exơra, Nêhêmi, Êxơtê, Gióp, Thi Thiên, Châm Ngôn, Truyền Đạo, Nhã Ca, Êsai, Giêrêmi, Ca Thương, Êxêchiên, Đaniên, Ôsê, Giôên, Amốt, Ápđia, Giôna, Michê, Nahum, Habacúc, Sôphôni, Aghê, Xachari, Malachi.

Các Sách Tân Ước:

  • Mathiơ, Mác, Luca, Giăng, Công Vụ Các Sứ Đồ, Rôma, 1 Côrinhtô, 2 Côrinhtô, Galati, Êphêsô, Philíp, Côlôse, 1 Tê salônica, 2 Tê salônica, 1 Timôthê, 2 Timôthê, Tít, Philêmôn, Hêbơrơ, Giacơ, 1 Phierơ, 1 Phierơ, 1 Giăng, 2 Giăng, 3 Giăng, Giuđe, Khải Huyền.

Tất cả các Sách Kinh Thánh đều được sự thần cảm của Đức Chúa Trời bởi Đức Thánh Linh để làm khuôn vàng thước ngọc cho Đức Tin và Đời Sống.

Tuyên Xưng Philadelphia (1742)

(GSiV: A Few Confessions of Faith in Vietnamese; Inerrancy)

Bad Pastors and Spiritual Abuse: Warning Signs

Does the leader (or leadership) of your church have these characteristics? If so, it’s time to do something about it.

6 WARNING SIGNS:

  • A Bad Pastor Surrounds Himself With “Yes” People
  • Spiritual Abuse Isolates Critics
  • A Bad Pastor Prizes Loyalty Over Diversity
  • Spiritual Abuse Refuses Accountability
  • A Bad Pastor Leads by Force of Personality
  • Spiritual Abuse Refuses to Believe Anything Is Wrong

Read the whole article here

(GSiV: Ân điển, chứ không phải những quy tắc / Grace not rules)

A lifetime message: the gospel for believers

‘If it’s true our relationship with God is based on his grace instead of our performance, why are we so prone to fall into good-day-bad-day thinking? It’s because we’ve relegated the gospel to the unbeliever.

Regardless of when you trusted Christ, the cross divides your life into two periods: “unbeliever” and believer.” What one word describes the Bible message you most needed to hear as an unbeliever? It’s the gospel, the power of God for salvation (Romans 1:16). And what one word describes the message we most need to hear as believers? I get many different answers to that question, but most can be summed up with the word discipleship–demands and duties such as the spiritual disciplines, holiness, and service.

I don’t question our emphasis on discipleship. Jesus did say, “Go therefore and make disciples” (Matthew 28:19). If anything, we need more challenging instruction on this. But there’s something more basic than discipleship, something that provides the necessary atmosphere in which discipleship can be practiced–the gospel.

We need to continue to hear the gospel every day of our Christian lives. Only a continuous reminder of God’s grace through Christ will keep us from falling into good-day-bad-day thinking, where we view our daily relationship with God as based on how good we’ve been.’

Jerry Bridges, Holiness Day by Day, Week 3 / Friday

(GSiV: Performance; Jerry Bridges; Earning vs effort: grace, justification, and sanctification)

Ân Điển của Chúa: Sự chọn lựa, Sự tiền định, và Sự biết trước

‘Theo Kinh Thánh, sự tiền định được giới hạn cho một số người được chọn, và sự tiền định bảo đảm cho địa vị hiện tại và số phận tương lai của họ. Về mặt thần học, thuật ngữ nầy đã được dùng để bao gồm tất cả mọi sự, có nghĩa là được dùng như một từ đồng nghĩa với kế hoạch toàn diện của Đức Chúa Trời. Từ định nghĩa về thần học nầy, thật dễ cho một số hình thức của thuyết Calvin dùng sự tiền định cho số phận của người không được chọn lựa. Vì thế đã xuất hiện giáo lý tiền định kép. Tuy nhiên, đây là một giả định về mặt lý luận, chứ không căn cứ trên các phân đoạn Kinh Thánh. Kinh Thánh nói rõ người được chọn thì được tiền định, nhưng không bao giờ gợi ý có một nguyên chỉ tương tự để chọn một số người cho bị định tội. Kinh Thánh dường như muốn để vấn đề ấy lại thành lẽ mầu nhiệm, và chúng ta cũng nên làm giống như thế.

‘3. Sự biết trước. Chữ proginoskô được dùng (a) để chỉ về sự hiểu biết từ trước trong trần thế nầy (Công vụ 26:5; 2 Phi-e-rơ 3:17); (b) chỉ về mối quan hệ của Đức Chúa Trời với Ysơraên (Rô-ma 11:2); và (c) chỉ về sự hy sinh của Đấng Christ (Công vụ 2:23; 1 Phi-e-rơ 1:20); và (d) chỉ về dân sự của Đức Chúa Trời ngày nay (Rô-ma 8:29; 1 Phi-e-rơ 1:2).

‘Cuộc tranh luận tập trung quanh vấn nạn: Có tồn tại mối tương quan đến mức nào trong chữ “sự biết trước.” Có phải chữ nầy chỉ đơn thuần nói Đức Chúa Trời biết trước theo ý nghĩa là biết trước mà không có một mối tương quan nào cả? Hoặc một biến thể của ý nầy: Có phải chữ nầy nói Ngài đã nhìn thấy trước về đức tin chứ không thấy trước về con người? Hoặc như thần học Calvin: Có phải Ngài đã liên hệ Ngài với con người từ trước cõi thời gian bằng cách nào đó, để rồi có một mối liên kết nhân quả khiến cho “biết trước” trên thực tế tương đương với “tiền định” hay “chỉ định trước”? Rõ ràng điều được biết trước chính là con người, chứ không phải đức tin của họ (Rô-ma 8:28-29). Cũng rõ ràng, sự biết trước như một nhận thức đơn thuần thì sự biết trước ấy không phải là cơ sở của sự chọn lựa, vì 1 Phi-e-rơ 1:2 bao gồm cả sự quyết định về phần Đức Chúa Trời nữa. Sự chọn lựa phù hợp với (kata) sự biết trước, và sự biết trước đó đã bao gồm cả thủ tục được dùng để tiến hành sự chọn lựa. Do vậy, có mối tương quan nào đó và/hoặc một quyết định nào đó vốn có sẵn trong ý nghĩa của việc biết trước. Chắc chắn câu 20 [1 Phi-e-rơ 1:20] bao gồm cả những ý tưởng đó, bằng không thì sẽ không bảo đảm được điều gì về sự hy sinh của Đấng Christ. Tương tự, có tính quyết định dứt khoát và tính biết chắc chắn trong Công vụ 2:23 và Rô-ma 11:2. Cách dùng chữ nầy trong Ngụy Kinh cũng bao gồm tính biết chắc chắn: “Và Sự đoán xét của Ngài ở trong sự biết trước của Ngài” (Judith 9:6). Đúng là chữ nầy không nói “chọn,”nhưng cũng không thể bị giảm xuống thành một khái niệm trung tính chỉ về riêng một mình sự nhận thức. Nó thực sự bao gồm sự quyết định, rồi đến lượt sự quyết định phải bao gồm cả sự bảo đảm xuất phát từ sự biết chắc chắn.’

-Charles Ryrie, Thần Học Căn Bản, tr. 383-384.

Read the whole thing here

[While we strongly disagree with Mr. Ryrie on his views of “non-lordship,” we think he has some valuable insight here regarding election. (For a biblical view of “Lordship” read this.)]

(GSiV: Election & Evangelism and Calvinism; Calvin on Election and Predestination)

The Cambridge Declaration: Scripture alone and Inerrancy

Luận Đề Thứ Nhất, “Sola Scriptura”, Tức Là “Chỉ Duy Nhất Kinh Thánh”…

Chúng ta tái khẳng định rằng Kinh Thánh là nguốn khải thị thành văn duy nhất của Đức Chúa Trời và vì thế chỉ duy nhất Kinh Thánh là có thẩm quyền trên lương tâm. Chỉ duy nhất Kinh Thánh dạy cho chúng ta những điều cần phải biết về sự cứu rỗi và về tiêu chuẩn mà mọi hành vi Cơ Đốc phải tuân theo.

Chúng ta phủ nhận mọi sự ràng buộc của tín điều trên đời sống của Cơ Đốc Nhân – bất kể là từ cá nhân hay Giáo Hội nào – và chúng ta không cho rằng Đức Thánh Linh có thể phán cách tách rời hay ngược lại các sự dạy dỗ của Kinh Thánh, và chúng ta cũng không cho rằng kinh nghiệm thuộc linh của cá nhân – bất kể là ai – là một kênh dẫn của sự khải thị Thiên Thượng.

Mục đích của việc nhấn mạnh “Chỉ Duy Nhất Đức Chúa Jêsus” là để giữ cho Đức Tin Trong Và Qua Đức Chúa Jêsus khỏi sự xói mòn.

Hễ khi nào niềm tin Cơ Đốc bị thế tục hóa thì các trọng điểm của Tin Lành sẽ bị phai mờ vì văn hóa của đời này. Hậu quả của việc này là tính tuyệt đối của lẽ thật không còn, chủ nghĩa cá nhân được dung túng, đời sống thánh khiết bị mất tính ưu tiên, trực giác được nâng bậc thay cho lẽ thật, cảm xúc thế chỗ cho đức tin, và cuộc theo Chúa của một người được xem như một sự kiện nhất tác, vạn thành. Nói chung, hễ khi nào niềm tin Cơ Đốc bị thế tục hóa thì chính Đức Chúa Jêsus và Thập Tự Giá của Ngài không còn đứng tại tâm điểm của Tin Lành Ngài nữa.

-Tuyên Xưng Đức Tin Cambridge

Read the whole thing here

(GSiV: 5 Onlys; Inerrancy; Philadelphia Baptist Confession of Faith–part 2)