Earning versus effort: grace, justification, and sanctification
As Christians, we know we have responsibilities–love God, love one another, care for widows and orphans, forgive our enemies, share the gospel of Christ, make disciples, etc. But even as we put forth effort in the Christian life to grow (sanctification), we should still understand our effort as possible only because of the Lord’s grace (justification). Had God not saved us we would still be dead in sin.
It is helpful when we distinguish between “earning” and “effort.” As Christians, we should not be busy merely because it’s our duty, trying to “earn” something from God. Rather we are fulfilling our duty joyfully by his Spirit and putting forth “effort” to grow because we know him already. Did we get that? Because we, Christians, know him already. As the Apostle Paul says, “May God himself, the God of peace, sanctify you through and through. May your whole spirit, soul and body be kept blameless at the coming of our Lord Jesus Christ. The one who calls you is faithful and he will do it” (1 Thessalonians 5:23–24). The Lord’s faithfulness in our lives will guarantee we have good works. Nonetheless we will put forth effort to do good works.
We can do good works because God has worked in us–and is working in us. Philippians 2:12–13 says it clearly, “Therefore, my beloved, as you have always obeyed, so now, not only as in my presence but much more in my absence, work out your own salvation with fear and trembling, for it is God who works in you, both to will and to work for his good pleasure.” We can do our good works because God lives in us and is working through us.
Here’s a quick summary:
- Non-Christians cannot earn their salvation from God. Salvation is all by grace.
- Christians cannot earn their relationship with God. This on-going relationship is all by grace.
- Christians can and should put forth effort to grow in holiness. Holiness (sanctification) is all by grace but we put forth effort to grow.
Do you primarily live out of religious duty, rigorous and hard, trying desperately to earn something from God? Or do you obey (put forth effort) out of delight and joy that comes from knowing Christ?
Công đức so với nổ lực: ân điển, sự xưng nghĩa, và sự thánh hóa
Là Cơ Đốc Nhân, chúng ta biết mình có những trách nhiệm — yêu Chúa, yêu nhau, chăm sóc người góa bụa và trẻ mồ côi, tha thứ cho kẻ thù mình, chia sẻ phúc âm của Đấng Christ, môn đồ hóa, vv. Nhưng khi chúng ta đặt nổ lực vào đời sống Cơ Đốc để tăng trưởng (nên thánh), chúng ta vẫn nên hiểu rằng mình có được nổ lực chỉ vì ân điển của Chúa (xưng nghĩa). Nếu Đức Chúa Trời không cứu chúng ta thì chúng ta vẫn chết mất trong tội lỗi.
Phân biệt được “công đức” và “nổ lực” là một việc có ích. Là Cơ Đốc Nhân, chúng ta không nên bận rộn chỉ vì đó là nhiệm vụ của mình, cố gắng “đạt lấy” một cái gì đó từ Đức Chúa Trời. Ngược lại chúng ta làm tròn nhiệm vụ của mình một cách vui mừng bởi Thần Linh Ngài và đặt “nổ lực” để tăng trưởng vì chúng ta đã biết Ngài. Chúng ta đã hiểu điều này chưa? Bởi vì chúng ta là Cơ Đốc Nhân, chúng ta đã biết Ngài rồi. Như sứ đồ Phao-lô nói, “Nguyền xin chính Đức Chúa Trời bình an khiến anh em nên thánh trọn vẹn, và nguyền xin tâm thần, linh hồn, và thân thể của anh em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được, khi Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta đến! Đấng đã gọi anh em là thành tín, chính Ngài sẽ làm việc đó” (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:23-24). Sự thành tín của Đức Chúa Trời trong đời sống chúng ta sẽ đảm bảo chúng ta có những việc lành. Dù sao nữa chúng ta sẽ đặt nổ lực thực hiện việc lành.
Chúng ta có thể làm việc lành vì Đức Chúa Trời đã hành động trong chúng ta — và đang hành động trong chúng ta. Phi-líp 2:12-13 nói rõ rằng, “Ấy vậy, hỡi những kẻ rất yêu dấu của tôi, như anh em đã vâng lời luôn luôn, chẳng những khi tôi có mặt mà thôi, lại bây giờ là lúc tôi vắng mặt, hãy cùng hơn nữa, mà lấy lòng sợ sệt run rẩy làm nên sự cứu chuộc mình. Vì ấy chính Đức Chúa Trời cảm động lòng anh em vừa muốn vừa làm theo ý tốt Ngài.” Chúng ta có thể làm việc lành vì Đức Chúa Trời sống trong chúng ta và đang hành động qua chúng ta.
Nói tóm lại:
- Người không tin Chúa không thể đạt lấy sự cứu chuộc từ Đức Chúa Trời. Sự cứu rỗi là hoàn toàn bởi ân điển.
- Cơ Đốc Nhân không thể đạt lấy mối liên hệ với Đức Chúa Trời. Mối liên hệ dài lâu này hoàn toàn bởi ân điển.
- Cơ Đốc Nhân có thể và nên đặt nổ lực để tăng trưởng trong sự thánh khiết. Sự thánh khiết (nên thánh) hoàn toàn bởi ân điển nhưng chúng ta đặt nổ lực để lớn lên.
Có phải bạn sống phần lớn là vì nhiệm vụ tín ngưỡng, nghiêm ngặt và khắc khe, cố gắng tuyệt vọng đạt lấy một thứ gì đó từ Đức Chúa Trời? Hay là, bạn tuân phục (đặt nổ lực) vì sự thỏa lòng và vui mừng từ mối quan hệ với Đấng Christ?
Sanctification according to the Baptist Faith & Message 2000 (English and Tiếng Việt)
Sanctification according to the Philadelphia Baptist Confession 1742 (English and Tiếng Việt)
Freedom from legalism: Colossians 2:20-23
Colossians 2:20-23: Six versions
| (ESV) 20 If with Christ you died to the elemental spirits of the world, why, as if you were still alive in the world, do you submit to regulations— 21 “Do not handle, Do not taste, Do not touch” 22 (referring to things that all perish as they are used)—according to human precepts and teachings? 23 These have indeed an appearance of wisdom in promoting self-made religion and asceticism and severity to the body, but they are of no value in stopping the indulgence of the flesh. (ESV) |
(VIET) 20 Ví bằng anh em chết với Đấng Christ về sự sơ học của thế gian, thì làm sao lại để cho những thể lệ nầy ép buột mình, như anh em còn sống trong thế gian: 21 Chớ lấy, chớ nếm, chớ rờ? 22 Cả sự đó hễ dùng đến thì hư nát, theo qui tắc và đạo lý loài người, 23 dầu bề ngoài có vẻ khôn ngoan, là bởi thờ lạy theo ý riêng, cách khiêm nhượng và khắc khổ thân thể mình; nhưng không ích gì để chống cự lòng dục của xác thịt. (VIET)
|
(NIV) 20 Since you died with Christ to the elemental spiritual forces of this world, why, as though you still belonged to the world, do you submit to its rules: 21 “Do not handle! Do not taste! Do not touch!”? 22 These rules, which have to do with things that are all destined to perish with use, are based on merely human commands and teachings. 23 Such regulations indeed have an appearance of wisdom, with their self-imposed worship, their false humility and their harsh treatment of the body, but they lack any value in restraining sensual indulgence. (NIV)
|
| (BD2011) 20 Nếu anh chị em đã chết với Ðấng Christ về các nguyên tắc sống cơ bản của đời nầy, tại sao anh chị em sống như thể còn thuộc về đời nầy? Tại sao anh chị em còn chấp hành các quy tắc như, 21 “Chớ đụng, chớ nếm, chớ cầm”? 22 Tất cả các quy tắc ấy đều sụp đổ khi đem ra áp dụng, vì chúng đặt nền tảng trên mệnh lệnh và sự dạy dỗ của loài người. 23 Các quy tắc ấy có vẻ như khôn ngoan khi đề cao việc khắc khổ tu thân, hạ mình, và đày đọa thân xác, nhưng chẳng có giá trị gì trong việc kiềm chế dục vọng của xác thịt. (BD2011)
|
(NLV) 20 You have died with Christ and become dead to those old ways. Then why do you follow the old ways of worship? Why do you obey man-made rules? 21 These rules say, “You must not put your hand on this.” “Do not put this into your mouth.” “You must not put your finger on that.” 22 All these things come to an end when they are used. You are following only man-made rules. 23 It looks as if it is wise to follow these rules in an act of worship, because they are hard on the body. It looks as if they are done without pride, but they are worth nothing. They do not take away a man’s desire to sin. (NLV)
|
(BPT) 20 Nếu anh chị em đã chết với Chúa Cứu Thế và được giải thoát khỏi các thần linh thống trị thế gian thì tại sao anh chị em lại sống như thể mình còn thuộc về thế gian bằng cách vâng giữ những qui tắc như: 21 “Không nên ăn cái nầy,” “Không nên nếm món kia,” “Đừng đụng đến thứ nọ”? 22 Những qui tắc ấy dành cho những vật thuộc thế gian, hễ dùng xong là vô dụng. Đó là những qui tắc do loài người đặt ra và dạy dỗ thôi, 23 mới xem qua thì thấy như khôn ngoan nhưng thật ra chỉ là một phần của đạo giáo loài người. Những qui tắc ấy có vẻ như dễ dãi, bắt người ta ép xác nhưng thật ra không thể chế ngự được dục vọng xấu xa của con người tội lỗi. (BPT)
|
What is legalism in the Bible? (English and Tiếng Việt)
‘Giáo Luật của Dordt (Dort)’ Là Gì?–part 5
Canons of Dordt (Dort)
The Canons of Dort (Rules or Guidelines of Dordt) come from an international council (synod / Hội Nghị) of Reformed people which took place in the city of Dordrecht (Dordtrecht), Netherlands in 1618-1619.
Giáo Điều Phần Thứ I
Sự Lựa Chọn Thiên Thượng và Sự Hư Mất
Điều 5: Nguyên do của tội không tin và những tội khác bắt nguồn từ con người; còn đức tin nơi Đức Chúa Giê-xu Christ và sự cứu rỗi trong Ngài là tặng phẩm của Đức Chúa Trời ban cho, như có chép rằng: “Ấy là nhờ ân điển bởi đức tin mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời” (Ê-phê-sô 2:8). Bởi cớ Đức Chúa Giê-xu Christ, Ngài đã ban ơn cho anh em không những tin Đức Chúa Giê-xu Christ mà thôi v.v… (Phi-líp 1:29).
Full document in Vietnamese here.
See GSiV Resources page
(Also see here
Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi: Tín Lý Về Ân Điển Quyền Năng
at GSiV)
‘Giáo Luật của Dordt (Dort)’ Là Gì?–part 4
Canons of Dordt (Dort)
The Canons of Dort (Rules or Guidelines of Dordt) come from an international council (synod / Hội Nghị) of Reformed people which took place in the city of Dordrecht (Dordtrecht), Netherlands in 1618-1619.
Giáo Điều Phần Thứ I
Sự Lựa Chọn Thiên Thượng và Sự Hư Mất
Điều 3: Để loài người có thể được đem tới và tin nhận Ngài, Đức Chúa Trời đã bày tỏ lòng nhân từ, sai các sứ đồ của Ngài tới, nhờ đó con người có thể ăn năn và đặt niềm tin nơi Chúa Giê-xu Christ đã bị đóng đinh “Nhưng họ chưa tin Ngài thì kêu cầu sao được? Chưa nghe nói về Ngài thì làm thế nào mà tin? Nếu chẳng ai rao giảng thì nghe làm sao? Lại nếu chẳng ai được sai đi thì rao giảng thế nào (Rô-ma 10:14-15)?
Điều 4: Cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời giáng trần những ai không chịu tin đến Phúc Âm này. Nhưng hễ ai đã tiếp nhận Phúc Âm này mà nắm giữ lấy cứu Chúa Giê-xu bằng một đức tin sống và chân thật thì Ngài sẽ giải cứu người ấy khỏi cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời và khỏi sự hư mất và ban cho người ấy được sự sống đời đời.
Full document in Vietnamese here.
See GSiV Resources page
(Also see here
Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi: Tín Lý Về Ân Điển Quyền Năng
at GSiV)
the grace of God has appeared
Titus 2:11 “For the grace of God has appeared, bringing salvation for all people,”
Tít 2:11 Vả, ân điển Đức Chúa Trời hay cứu mọi người, đã được bày tỏ ra rồi.
Xem chi tiết: “Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi: Tín Lý Về Ân Điển Quyền Năng” (“God and Salvation: The Doctrines of Sovereign Grace”)
a people for his own possession
Titus 2:13–14 “waiting for our blessed hope, the appearing of the glory of our great God and Savior Jesus Christ, who gave himself for us to redeem us from all lawlessness and to purify for himself a people for his own possession who are zealous for good works.”
Tít 2:13-14 đang chờ đợi sự trông cậy hạnh phước của chúng ta, và sự hiện ra của sự vinh hiển Đức Chúa Trời lớn và Cứu Chúa chúng ta, là Đức Chúa Jêsus Christ, là Đấng liều mình vì chúng ta, để chuộc chúng ta khỏi mọi tội và làm cho sạch, đặng lấy chúng ta làm một dân thuộc riêng về Ngài, là dân có lòng sốt sắng về các việc lành.
Xem chi tiết: “Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi: Tín Lý Về Ân Điển Quyền Năng” (“God and Salvation: The Doctrines of Sovereign Grace”)
were subject to lifelong slavery
Hebrews 2:15 “and deliver all those who through fear of death were subject to lifelong slavery.”
Hê-bơ-rơ 2:15 lại cho giải thoát mọi người vì sợ sự chết, bị cầm trong vòng tôi mọi trọn đời.
Xem chi tiết: “Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi: Tín Lý Về Ân Điển Quyền Năng” (“God and Salvation: The Doctrines of Sovereign Grace”)
‘Giáo Luật của Dordt (Dort)’ Là Gì?–part 3
Canons of Dordt (Dort)
Giáo Điều Phần Thứ I
Sự Lựa Chọn Thiên Thượng và Sự Hư Mất
Điều 1: Vì trong Ađam mọi người đều đã phạm tội, bị rủa sả và đáng chịu chết mất đời đời, Đức Chúa Trời rất công bình nên tất cả mọi người phải bị hư mất và chịu đoán phạt bởi tội lỗi của họ gây ra, theo như lời các Sứ Đồ: Để cho miệng nào cũng phải ngậm lại, cả thiên hạ đều nhận tội trước mặt Đức Chúa Trời (Rô-ma 3:19) và vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (Rô-ma 3:23). Vì tiền công của tội lỗi là sự chết (Rô-ma 6:23).
Điều 2: Nhưng tình yêu thương của Đức Chúa Trời đã được bày tỏ rõ ra qua việc Chúa sai con độc sanh của Ngài xuống thế gian, hầu cho hễ ai tin con ấy, không bị hư mất mà được sự sống đời đời (I Giăng 4:9; Giăng 3:16).
Full document in Vietnamese here.
See GSiV Resources page
(Also see here
Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi: Tín Lý Về Ân Điển Quyền Năng
at GSiV)









