Reformation History: Martin Luther’s Conversion (Spurgeon)–part 2
“The just shall live by faith” (Romans 1:17)
Spurgeon spoke the following about Luther:
‘I would sum up and illustrate this teaching by mentioning certain incidents of Luther’s life. Upon the great Reformer gospel light broke by slow degrees. It was in the monastery that, in turning over the old Bible that was chained to a pillar, he came upon this passage – “The just shall live by his faith.” This heavenly sentence stuck to him: but he hardly understood all its bearings. He could not, however, find peace in his religious profession and monastic habit. Knowing no better, he persevered in penances so many, and mortifications so arduous, that sometimes he was found fainting through exhaustion. He brought himself to death’s door… and he went on with his penances, seeking rest, but finding none…[later] the Lord wrought him a full deliverance from superstition, and he saw that not by priests, nor priestcraft, nor penances, nor by anything that he could do, was he to live, but that he must live by his faith [in Christ]. Our text of this [morning] had set the [Catholic] monk at liberty, and set his soul on fire.’
-C. H. Spurgeon, “A Luther Sermon at the Tabernacle.”
Tiếng Việt
“Người công bình sống bởi đức tin” (Rô-ma 1:17)
Spurgeon đã nói về Luther như sau,
‘Tôi sẽ tóm tắt và làm sáng tỏ về sự giảng dạy nầy một chút ít về những dử kiện gắn liền với đời sống của Luther. Dựa trên nhà cải cách vĩ đại ánh sáng phúc âm diển tiến trong một mức độ chậm. Ở trong tu viện đó, trong lúc lật qua bản Kinh Thánh củ kỷ đã bị xích lại vào cột trụ, thì ông đến với phân đoạn nầy – “Người công bình sống bởi đức tin.” Câu nói tuyệt trần nầy đã gắn liền với ông; nhưng ông khó có thể hiểu được tất cả ý nghĩa của nó. Ông không thể, dù cách nào, tìm sự yên tĩnh trong nghề nghiệp tôn giáo của ông và cái thói quen ở trong tu viện. Không biết cách nào tốt hơn, ông kiên trì trong sự hành xác quá đổi, và thối hoại cách gian khổ, đôi khi ông phải bị kiệt sức, ngất xỉu. Ông đã đem ông đến cửa của sự chết. Ông phải làm một chuyến hành trình đến La-mã, là vì tại La- mã có một Hội Thánh còn khỏe mạnh mỗi ngày, và bạn chắc chắn được thắng lợi trong sự xưng nhận tội lổi và tất cả kiểu cách của ơn trời trong những nơi linh thiêng nầy. Ông nằm mơ thấy mình đi vào [La-mã] là xứ thánh; nhưng ông thấy nó như là sào huyệt của bọn đạo đức giả và hang ổ trộm cướp. Trong cơn khủng khiếp, ông nghe có người nói nếu như có điạ ngục thì La-mã được xây trên đỉnh nó, bởi vì đó là sự tiến gần với nó nhứt mà có thể tìm được trên thế gian nầy, nhưng ông vẩn đặc niềm tin vào Đức Giáo Hoàng và tiếp tục với sự hành xác của ông, tìm kiếm sự an nghỉ, nhưng tìm không thấy…..[sau đó] Chúa giải thoát ông khỏi sự mê tính, và ông thấy rằng không phải bởi tu sĩ, hoặc việc làm của tu sĩ, hoặc hành xác, hoặc bởi những vì ông làm, để sống, nhưng rằng phải sống bởi đức tin [trong Đấng Christ]. Phân đoạn [sáng hôm nay] đã đặc các tu sĩ [Công Giáo] được tự do, và đặc tâm hồn họ nẩy lửa.’ link
(GSiV links)
Does Calling on Lord’s Name Equal Salvation?
How are people saved? What role does repentance play? “Easy Believe-ism” is a problem around the world. Here’s a helpful article:
‘One of the verses that’s routinely overused—and under-exegeted—in gospel ministry is Romans 10:13, “For whoever will call on the name of the Lord will be saved.”
‘That verse has been a go-to text for evangelists like Billy Graham. But excerpted out of its context, it’s a recipe for shallow faith and false assurance. And the rampant, easy abuse of Romans 10:13 and similar verses is the reason for the widespread easy-believism and false assurance that plagues the church today.
‘To understand Paul’s true intent in Romans 10:13, we need to consider the surrounding verses…. Paul’s point is clear—salvation is not a birth right, nor is it a momentary decision. True faith is active and ongoing.’
-Jeremiah Johnson, “Is Calling on the Lord’s Name All It Takes to Be Saved?”
Read the whole article here
(GSiV links)
‘Sự Lựa Chọn’ Là Gì?—Part 1
What is ‘election’?
‘Ý nghĩa của sự lựa chọn đối với người tin Chúa
‘Phao-lô tìm thấy trong sự nhận thức của tín hữu về sự chọn lựa của mình một ý nghĩa tôn giáo có ba điểm sau:
‘a. Điều này bày tỏ cho tín hữu thấy rằng sự cứu rỗi của mình, từ đầu đến cuối, đều thuộc về Đức Chúa Trời, một kết quả của ơn thương xót thần hựu đặc biệt. Sự cứu chuộc mà người tìm thấy chỉ trong Đấng Christ và nhận được chỉ bởi đức tin, không bắt nguồn từ một phẩm cách cá nhân nào, nhưng chỉ bởi ân điển – ân điển của sự chọn lựa. Mọi phước hạnh thuộc linh tuôn tràn trên người đều đến từ ý định lựa chọn của Đức Chúa Trời (Êph 1:3tt.). Do đó, nhận thức về sự lựa chọn của mình sẽ dạy người ấy làm vinh hiển Đức Chúa Trời, và chỉ một mình Đức Chúa Trời mà thôi (1Cô 1:31), và dâng cho Ngài sự ngợi khen mà Ngài đáng được nhận (Rô 11:36). Cuối cùng của sự chọn lựa đó là Đức Chúa Trời được ngợi khen (Êph 1:6, 12, 14), và ý tưởng về sự lựa chọn phải hướng tội nhân được chuộc đến sự ngợi khen và cảm tạ không thôi, như Phao-lô đã làm (Rô 11:33tt.; Êph 1:3tt.; 1Tê 11:3tt.; 2Tê 2:13tt.). Điều mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ về sự lựa chọn cho Phao-lô là một chủ đề, không phải là một lý luận, dành cho sự thờ phượng.’ -J. I. Packer
-New Bible Dictionary, I. H. Marshall, J. I. Packer, et.al. (Intervarsity) / Thánh Kinh Tân Từ Điển (UUC: 2009, tr. 1055)
(Tại GSiV: Xem Chi Tiết)
Relish God’s Supremacy—the New Birth
Do you enjoy God and his saving grace? Do you make much of him and his work in the new birth (regeneration)?
‘…the first effect of the power of God in the heart in REGENERATION, is to give the heart a Divine taste or sense; to cause it to have a relish of the loveliness and sweetness of the supreme excellency of the Divine nature; and indeed this is all the immediate effect of the Divine Power that there is, this is all the Spirit of God needs to do, in order to a production of [in order to produce] all good effects in the soul.’ -Jonathan Edwards, Treatise on Grace, p. 49
The new birth is something only God can bring about; no man ever brought about his own physical birth. And when the Lord breathes life into one of his elect, they delight in him.
Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi–12
Tín lý về ân điển quyền năng
‘Tín lý về ân điển quyền năng, hay thuyết Calvin căn bản là về sự vĩ đại và uy nghi của Đức Chúa Trời. Điều quan trọng nhất của con người là làm vinh hiển Đức Chúa Trời và tận hưởng Ngài mãi mãi, như Tín Điều Trích lượt Westminster nói đến. Thuyết Calvin đặc biệt liên quan đến sự thảo luận của chúng ta theo hướng này–Đức Chúa Trời là vĩ đại và đáng được ngợi khen. Ngài là Đấng quyền năng và là món quà vĩ đại nhất mà Ngài có thể ban cho người khác. Ngài sẽ không dừng lại để bênh vực cho mình qua sự chết và sự phục sinh của ngôi hai trong ba ngôi Đức Chúa Trời, Chúa Giê-xu-Thần Nhân.’
- The doctrines of sovereign grace
‘The doctrines of sovereign grace, or Calvinism, are primarily about the greatness and magnificence of God. The chief end of man is to glorify God and enjoy him forever, as the Westminster Shorter Catechism says….’
– Đoạn 10, GSiV: Xem chi tiết
Calvin on Election and Predestination–Part 3
What did the great theologian Jean (John) Calvin actually say about these doctrines? Below is one teacher’s wrong teachings about Calvin’s theology.
‘Predestination: Calvin believed that God made faith available as a gift to every person. It was the will of God that every person would accept Jesus as Savior by faith. However, God also knew that not everyone would receive Jesus and be saved. (Rom. 8:29-30; Eph. 1:5; 1:11)
‘He used numerous scriptures to teach his doctrine of predestination.
‘Calvin’s followers: After several years his followers began to take Calvin’s teaching about predestination to the extreme.
- ‘One group said that “predestination” means exactly what Calvin taught, that God willed in advance that all people can have faith and can believe in Christ, however not all men will believe and be saved.
- ‘A second group taught that God willed for certain people to be saved and some to be lost. They also used scriptures to prove this. They believed that people who are “predestined” to be saved will not be able to deny Christ. They will accept Jesus and be saved. God has willed that some people will not accept Jesus. No matter what they do, they will never accept Jesus and be saved. This position actually was adopted by most Calvinists and became official Calvinism even though Calvin did not teach this.
‘Many different groups of churches adopted one or the other of these positions.’
Dưới đây là đánh giá sai của một thầy về thần học của Calvin
‘Sự tiền định: Calvin tin rằng Đức Chúa Trời dành sẵn đức tin cho chúng ta như là tặng phẩm Ngài dành cho mọi người. Ý muốn Đức Chúa Trời là mỗi người phải tiếp nhận Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa bởi đức tin. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời cũng biết không phải mọi người đều tiếp nhận Chúa Giê-xu và được cứu. (Rô-ma 8:29-30; Ê-phê-sô 1:5; 1:11)
‘Ông dùng nhiều câu Kinh Thánh để dạy giáo lý của ông về sự tiền định.
‘Môn đồ của Calvin: Sau vài năm, môn đồ ông bắt đầu đưa lời dạy của Calvin về sự tiền định, tới chỗ cực đoan.
- ‘Một nhóm bảo rằng tiền định có nghĩa chính xác như Calvin đã dạy, rằng Đức Chúa Trời đã định trước cho mọi người đều có đức tin và có thể tin Đấng Cơ Đốc, tuy nhiên không phải mọi người đều tin và được cứu.
- ‘Một nhóm thứ hai bảo rằng Đức Chúa Trời muốn một số người nào đó được cứu và một số bị hư mất. Họ cũng dùng Kinh Thánh để chứng minh điểm này. Họ tin rằng những người đã “tiền định” được cứu, sẽ không có cách từ chối Đấng Cơ Đốc. Họ sẽ tiếp nhận Chúa Giê-xu và được cứu. Đức Chúa Trời muốn một số người nào đó sẽ không tiếp nhận Chúa Giê-xu. Dù có làm gì, họ cũng sẽ không bao giờ tiếp nhận Chúa Giê-xu và được cứu. Quan điểm này thực sự được đa số người theo Calvin chấp nhận và chính thức trở thành thuyết Calvin, dù rằng Calvin không dạy như vậy.
‘Nhiều nhóm hội thánh khác nhau đã chấp nhận hoặc quan điểm này hoặc quan điểm kia.’
Fortunately, we can read for ourselves what Calvin believed. (Dưới đây là thần học của Calvin.)
- Institutes, Book 3, chapter 21.
- Institutes, Book 3, chapter 22.
In summary, Calvin believed that because of sin no one on his own will choose Christ. God in his mercy chose those whom he would one day save. Because God elected (chose) them, they will repent and believe and be saved. Arminianism teaches that God looked down through time and saw that some people would believe, and therefore God choose them based on what he saw them doing. But this was not Calvin’s view.
Calvin on Election and Predestination–Part 2
‘Calvin next taught that salvation is a matter of Unconditional election apart from human merit or divine foreknowledge. Election is based on the sovereign will of God and is a dual predestination of some to salvation and others to condemnation.’
-Earle E. Cairns, Christianity through the Centuries, 1996, ed 3rd, p. 303.
‘Kế đó, Calvin dạy rằng sự cứu rỗi là vấn đề của sự chọn lựa vô điều kiện (Unconditional election) không kể đến công đức của con người hay sự biết trước thiên thượng. Sự chọn lựa được căn cứ trên ý muốn tối thượng của Đức Chúa Trời và là sự tiền định kép cho một số người được cứu và một số người bị đoán phạt’
-Earle E. Cairns, Cơ Đốc Giáo Trải Các Thế Kỷ, 2010, p. 342.
Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi–11
‘Liên quan tính chính thống, thuyết Calvin bảo vệ tín lý theo Kinh thánh về sự bền lòng của các thánh đồ, hay sự an ninh đời đời, điều quí báu đối với những người Tin lành, đặc biệt như các nhóm Báp-tít. Spurgeon đã nói: “Thuyết Calvin có sức mạnh ôn hòa nhằm giúp giữ vững con người với chân lý quan trọng” (Piper sermon, “Spurgeon,” quoting A Marvelous Ministry, p. 121). Do đó, thuyết Calvin không thể quá tệ hay đi quá xa với tính chính thống của Kinh thánh. Lý do nó bảo vệ sự dạy dỗ này và những sự dạy dỗ khác vì nó đi vào điều cốt lõi, căn nguyên của Kinh thánh–lấy Đức Chúa Trời làm trọng tâm. Các hệ thống như thuyết Arminian tập trung vào con người và truyền giảng trong khi đó thường đánh mất tầm nhìn về sự vĩ đại của Đức Chúa Trời. Thuyết Calvin, bởi ân điển của Đức Chúa Trời, nhìn thấy Đức Chúa Trời vĩ đại hơn tất cả mọi vật và không có điều gì ngăn cản Đức Chúa Trời được vinh hiển. Truyền giảng sẽ bị hạn chế bởi mặc định nhưng không phải vì đó là trọng tâm chính trong mô hình Calvin. Chính xác hơn vì thuyết Calvin tôn cao Đức Chúa Trời trên mọi vật, truyền giảng sẽ có vị trí cao trong một hệ thống như thế. Nhưng đối với tất cả Cơ đốc nhân thích truyền giáo và giữ tín lý về sự đảm bảo đời đời, nhiều người trong số họ khước từ những lẽ thật lớn về tín lý ân điển. Nhưng liệu chính những Cơ đốc nhân này có dành thời gian suy xét điều dạy trong Kinh thánh bảo vệ tín lý về sự đảm bảo đời đời là điều có liên hệ đến những sự dạy dỗ của thuyết Calvin?’
SOME ENGLISH:
‘Concerning orthodoxy, Calvinism protects the biblical doctrine of perseverance of the saints, or eternal security, which has always been precious to Protestants, especially such groups as Baptists. Spurgeon said, “Calvinism has in it a conservative force which helps to hold men to vital truth” (Piper sermon, “Spurgeon,” quoting A Marvelous Ministry, p. 121). Calvinism, thus, can’t be too bad or too far afield from biblical orthodoxy….’
– Đoạn 26, GSiV: Xem chi tiết
Calvin on Election and Predestination–Part 1
John Calvin’s summary on election
‘The doctrine of Election and Predestination. It is useful, necessary, and most sweet. Ignorance of it impairs the glory of God, plucks up humility by the roots, begets and fosters pride. The doctrine establishes the certainty of salvation, peace of conscience, and the true origin of the Church.’
- Institutes, Book 3, chapter 21.
Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi–10
Tránh tranh luận và chỉ giảng Kinh Thánh
‘Thỉnh thoảng, các Cơ đốc nhân cầu toàn nói: “Vì đó là vấn đề gây tranh cãi nên chúng ta không dạy về tín lý ân điển. Chúng ta nên chỉ dạy theo Kinh thánh.” Hay “Chúng ta không muốn vấn đề tiền định gây tranh cãi mà chỉ dạy Kinh thánh thôi.” Song ý kiến này là ngây thơ nhất. Sự bàn thảo sẽ có giá trị gì nếu không có quyền năng của Đức Chúa Trời trong sự cứu rỗi? Vấn đề sẽ thế nào nếu chúng ta áp dụng phương pháp này vào sự đảm bảo đời đời của các tín hữu? Có đáng để thảo luận không? Sự tranh luận không phải là xấu. Trong 2 Ti-mô-thê 2:24-25 Phao-lô dạy rằng tôi tớ của Chúa không nên ưa sự tranh cạnh; nhưng phải ở tử tế với mọi người, có tài dạy dỗ, nhịn nhục, dùng cách mềm mại mà sửa dạy những kẻ chống trả. Tuy nhiên, trong câu 10 Phao-lô đã nói: “Vậy nên, ta vì cớ những người được chọn mà chịu hết mọi sự, hầu cho họ cũng được sự cứu trong Đức Chúa Jêsus Christ, với sự vinh hiển đời đời.” Vì thế “không nên ưa tranh cạnh” trong câu 24 không có nghĩa là né tránh dạy tín lý về ân điển của câu 10. Trên thực tế, phần còn lại của câu 25 nói rằng: “mong rằng Đức Chúa Trời ban cho họ sự ăn năn để nhìn biết lẽ thật.” Ngay giữa phần Phao-lô hướng dẫn Ti-mô-thê tránh việc tranh cãi ông nói về được chọn nhận được sự cứu rỗi và Đức Chúa Trời ban sự ăn năn. Chắc rằng Phao-lô không mâu thuẫn với chính mình.’
SOME ENGLISH:
Avoiding controversy and just teaching the Bible
‘Sometimes well-meaning Christians say, “Because it’s controversial let’s not teach the doctrines of grace. Let’s just teach the Bible.” Or “We don’t want the predestination controversy just biblical teaching.” Yet these ideas are at best naive….’
– Đoạn 52, GSiV: Xem chi tiết
Discerning what Scripture says: Part 6
More Ryrie on non-Lordship
In continuing this idea about Lordship salvation, it is to Ryrie’s credit that he quotes people who disagree with him. Again the Bible, against Ryrie, supports what this theologian below says:
‘The lordship view expressly states the necessity of acknowledging Christ as the Lord and Master of one’s life in the act of receiving Him as Savior. These are not two different, sequential acts (or successive steps), but rather one act of pure, trusting faith. It takes little theological acumen to discern the base differences between the lordship and nonlordship views of the presentation of the Gospel.’
‘Quan điểm quyền tể trị của Chúa trình bày rõ rành tính thiết yếu của việc công nhận Đấng Christ làm Chúa và Chủ của đời sống mình qua việc tiếp nhận Ngài làm Cứu Chúa mình. Đây không phải là hai hành động khác nhau, kế tiếp nhau (hay là những bước liên tiếp nhau), nhưng trái lại là một hành động của đức tin thuần túy và phó thác. Không cần phải có nhiều sáng suốt về thần học mới phân biệt được những khác biệt cơ bản giữa những quan điểm đòi hỏi quyền tể trị của Chúa với quan điểm không đòi hỏi quyền tể trị của Chúa trong sự trình bày Tin Lành.’
-K. L. Gentry, “The Great Option,” Baptist Reformation Review 5, 1976, (quoted by Charles Ryrie, Thần Học Căn Bản, p. 417 / Ryrie, Basic Theology, p. 390).
Regeneration, God’s Grace, New Birth–Part 4
“We’ve been telling people the lie…that if you do this [pray a prayer], then God will make you born again. You see the only difference between baptismal regeneration and decisional regeneration is the new birth is just attached to a different act. On one it’s water and on the other it’s a prayer.”
-Audio: Timothy Juhnke “Decisional Regeneration,” Around the 27:00-29:00 minute point.









