Reformation History: Teach Your Kids about it–part 5
Below is a good article for coaching your kids with church history:
‘1. I want them to know about God’s faithfulness to his church.
We are not the first to preach the gospel and certainly not the first to follow Christ….
‘2. I want them to know reformation must continue.
I want my kids to know the reality of semper reformanda—always reforming according to Scripture….
‘3. I want them to know defending the Bible is dangerous, but worth the risk.
The reformers and their theological heirs, the oft-lampooned Puritans, were well acquainted with the cost of discipleship….
‘4. I want them to know God does extraordinary things through ordinary people.
Luther was a monk, Calvin a pastor, Bunyan a pot-fixer, and Carey a shoemaker….
‘5. I want them to know the gospel is everything.’
Read more
Reformation History: 5 Điều Duy Nhất–part 4
Năm Điều Duy Nhất Của Cuộc Cải Chánh
(Five Solas of the Reformation)
‘31 Tháng Mười năm 1517, Mác-tin Lu-tơ đã đóng ghim 95 luận điểm cải cách giáo hội của ông trên cánh cửa nhà thờ, lập cột mốc vô cùng quan trọng thúc đẩy sự bùng phát lên từ đó của dòng Tin lành, mà thực chất là đưa Hội thánh quay trở lại với cội nguồn đức tin và gìn giữ những chân lý đã được Đức Chúa Trời đóng ấn trong Kinh thánh….’
‘Duy chỉ Kinh thánh! Kinh thánh được chính Thánh Linh Chúa Trời cảm hứng soi dẫn những con người viết ra, duy nhất là chân lý với thẩm quyền tối cao để bày tỏ hoàn toàn….
‘Duy chỉ đức tin! Con người được nhận sự tha thứ của Chúa Trời chỉ duy nhất nhờ đức tin vào sự hy sinh chuộc tội của Cứu Chúa Jê-sus, chứ không thể nhờ các việc làm công đức….
‘Duy chỉ ân điển! Sự cứu rỗi đến chỉ nhờ duy nhất ân điển Đức Chúa Trời, là ơn thương xót, là món quà Chúa ban cho không….
‘Duy chỉ Đấng Christ! Đức Chúa Jê-sus là Con duy nhất của Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời trọn vẹn và cũng là con người trọn vẹn, Ngài là Đấng trung bảo duy nhất giữa Đức Chúa Trời và loài người, không hề có sự cứu rỗi trong đấng nào khác….
‘Vinh hiển duy thuộc Đức Chúa Trời! Mọi vinh hiển duy nhất chỉ thuộc về Đức Chúa Trời….’
-Trần Quốc Hùng
(GSiV: Luther, Calvin, Farel, Reformation)
Reformation History: Martin Luther’s Conversion (Spurgeon)–part 3
“The just shall live by faith” (Romans 1:17)
Spurgeon spoke the following about Luther:
‘No sooner did he believe this than he began to live in the sense of being active. A [priest], named Tetzel, was going about all over Germany selling the forgiveness of sins for so much ready cash. No matter what your offense, as soon as your money touched the bottom of the [collection] box your sins were gone. Luther heard of this, grew indignant, and exclaimed, “I will make a hole in his drum,” which assuredly he did, and in several other drums. The nailing up of his theses on the church door was a sure way of silencing the indulgence music. Luther proclaimed pardon of sin by faith in Christ without money and without price, and the Pope’s indulgences were soon objects of derision. Luther lived by his faith, and therefore he who otherwise might have been quiet, denounced error as furiously as a lion roars upon his prey. The faith that was in him filled him with intense life, and he plunged into war with the enemy. After a while they summoned him to Augsburg, and to Augsburg he went, though his friends advised him not to go. They summoned him, as a heretic, to answer for himself at the Diet [Imperial Council] of Worms, and everybody [told him to] stay away, for he would be sure to be burned [at the stake]; but he felt it necessary that the testimony should be borne, and so in a wagon he went from village to village and town to town, preaching as he went, the poor people coming out to shake hands with the man who was standing up for Christ and the gospel at the risk of his life. You remember how he stood before that august assembly [at Worms], and though he knew as far as human power went that his defense would cost him his life, for he would, probably, be [burned at the stake] like John Huss, yet he [acted like a] man for the Lord his God. That day in the German Diet [Court] Luther did a work for which ten thousand times ten thousand mothers’ children have blessed his name, and blessed yet more the name of the Lord his God.’
-C. H. Spurgeon, “A Luther Sermon at the Tabernacle.”
//
“Người công bình sống bởi đức tin” (Rô-ma 1:17)
Spurgeon đã nói về Luther như sau:
‘Ông tin vào điều nầy không bao lâu thì ông bắt đầu để sống trong cảm giác của bản chất tích cực. Vị [tu sĩ], tên là Tetzel, đã đi khắp Nước Đức rao bán sự tha thứ tội lổi cho những ai có ít tiền mặt sẳn sàng. Không cần biết bạn phạm tội gì, một khi tiền của bạn đụng dưới đáy thùng [đựng tiền] thì tội của bạn biến mất. Luther nghe về điều nầy, trở nên căm phẫn, và la lên, “Tôi sẽ làm lũng một lổ trong cái trống của hắn,” tất nhiên ông đã làm như vậy, và trong những cái trống khác nữa. Sự đóng đinh những bản án lên trên những cửa của nhà thờ là một cách làm im lặng sự ham mê âm nhạc. Luther tuyên bố sự tha tội là bởi đức tin trong Chúa Giê-sus Christ không có cần tiền và không có giá, và sự nuông chiều của Đức Giáo Hoàng sẽ sớm thành những đồ vật cho sự chế nhạo. Ông Luther sống bởi đức tin, và vì thế ông không còn im lặng, lên án những sự sai lầm như một con sư tử giận dữ đang gầm trên con mồi của mình. Đức tin ở trong ông làm đầy sức sống mãnh liệt trên ông, và ông lao mình vào chiến tranh với kẻ thù. Sau một thời gian họ triệu ông đến Augsburg, và ông đi đến Augsburg, mặc dù bạn bè đề nghị với ông rằng ông không nên đi. Họ triệu ông đến, như người theo dị giáo, để tự trả lời cho chính mình tại Hội Nghị [Hội Đồng Đế Quốc] thuộc Người Không Đáng Kể (Worms), và mọi người đều [kêu ông phải] tránh xa, bằng không ông chắc chắn sẽ bị thiêu [tại cột trói để thiêu sống]; nhưng ông cảm thấy có sự cần thiết rằng lời chứng phải được chịu đựng, cho nên bằng chiếc xe ngựa ông đi từ làng nầy đến làng kia và từ tỉnh nầy đến tỉnh kia, vừa đi vừa rao giảng, những người nghèo khó ra và bắt tay với người đàn ông tranh đấu vì Đấng Christ và tin lành bằng sự nguy hiểm của mạng sống mình. Bạn nhớ ông đứng trước hội nghị tháng tám như thế nào [tại Người Không Đáng Kể (Worms)], và dù ông biết về phần sức của loài người thì sự biện hộ của ông phải trả bằng mạng sống, ông sẳn sàng chịu, có thể, bị [thiêu sống tại cột trói] như ông John Huss, hơn nữa ông [đóng vai trò như] một người cho Chúa là Đức Chúa Trời. Ngày đó trong Hội Đồng của người Đức [Toà] ông Luther làm một việc thay cho mười ngàn lần mười ngàn những con của những người mẹ đã chúc phước tên của ông, và được phước nhiều hơn thế nữa danh của Chúa là Đức Chúa Trời của ông.’ link
(GSiV links)
Reformation History: Martin Luther’s Conversion (Spurgeon)–part 2
“The just shall live by faith” (Romans 1:17)
Spurgeon spoke the following about Luther:
‘I would sum up and illustrate this teaching by mentioning certain incidents of Luther’s life. Upon the great Reformer gospel light broke by slow degrees. It was in the monastery that, in turning over the old Bible that was chained to a pillar, he came upon this passage – “The just shall live by his faith.” This heavenly sentence stuck to him: but he hardly understood all its bearings. He could not, however, find peace in his religious profession and monastic habit. Knowing no better, he persevered in penances so many, and mortifications so arduous, that sometimes he was found fainting through exhaustion. He brought himself to death’s door… and he went on with his penances, seeking rest, but finding none…[later] the Lord wrought him a full deliverance from superstition, and he saw that not by priests, nor priestcraft, nor penances, nor by anything that he could do, was he to live, but that he must live by his faith [in Christ]. Our text of this [morning] had set the [Catholic] monk at liberty, and set his soul on fire.’
-C. H. Spurgeon, “A Luther Sermon at the Tabernacle.”
Tiếng Việt
“Người công bình sống bởi đức tin” (Rô-ma 1:17)
Spurgeon đã nói về Luther như sau,
‘Tôi sẽ tóm tắt và làm sáng tỏ về sự giảng dạy nầy một chút ít về những dử kiện gắn liền với đời sống của Luther. Dựa trên nhà cải cách vĩ đại ánh sáng phúc âm diển tiến trong một mức độ chậm. Ở trong tu viện đó, trong lúc lật qua bản Kinh Thánh củ kỷ đã bị xích lại vào cột trụ, thì ông đến với phân đoạn nầy – “Người công bình sống bởi đức tin.” Câu nói tuyệt trần nầy đã gắn liền với ông; nhưng ông khó có thể hiểu được tất cả ý nghĩa của nó. Ông không thể, dù cách nào, tìm sự yên tĩnh trong nghề nghiệp tôn giáo của ông và cái thói quen ở trong tu viện. Không biết cách nào tốt hơn, ông kiên trì trong sự hành xác quá đổi, và thối hoại cách gian khổ, đôi khi ông phải bị kiệt sức, ngất xỉu. Ông đã đem ông đến cửa của sự chết. Ông phải làm một chuyến hành trình đến La-mã, là vì tại La- mã có một Hội Thánh còn khỏe mạnh mỗi ngày, và bạn chắc chắn được thắng lợi trong sự xưng nhận tội lổi và tất cả kiểu cách của ơn trời trong những nơi linh thiêng nầy. Ông nằm mơ thấy mình đi vào [La-mã] là xứ thánh; nhưng ông thấy nó như là sào huyệt của bọn đạo đức giả và hang ổ trộm cướp. Trong cơn khủng khiếp, ông nghe có người nói nếu như có điạ ngục thì La-mã được xây trên đỉnh nó, bởi vì đó là sự tiến gần với nó nhứt mà có thể tìm được trên thế gian nầy, nhưng ông vẩn đặc niềm tin vào Đức Giáo Hoàng và tiếp tục với sự hành xác của ông, tìm kiếm sự an nghỉ, nhưng tìm không thấy…..[sau đó] Chúa giải thoát ông khỏi sự mê tính, và ông thấy rằng không phải bởi tu sĩ, hoặc việc làm của tu sĩ, hoặc hành xác, hoặc bởi những vì ông làm, để sống, nhưng rằng phải sống bởi đức tin [trong Đấng Christ]. Phân đoạn [sáng hôm nay] đã đặc các tu sĩ [Công Giáo] được tự do, và đặc tâm hồn họ nẩy lửa.’ link
(GSiV links)
Does Calling on Lord’s Name Equal Salvation?
How are people saved? What role does repentance play? “Easy Believe-ism” is a problem around the world. Here’s a helpful article:
‘One of the verses that’s routinely overused—and under-exegeted—in gospel ministry is Romans 10:13, “For whoever will call on the name of the Lord will be saved.”
‘That verse has been a go-to text for evangelists like Billy Graham. But excerpted out of its context, it’s a recipe for shallow faith and false assurance. And the rampant, easy abuse of Romans 10:13 and similar verses is the reason for the widespread easy-believism and false assurance that plagues the church today.
‘To understand Paul’s true intent in Romans 10:13, we need to consider the surrounding verses…. Paul’s point is clear—salvation is not a birth right, nor is it a momentary decision. True faith is active and ongoing.’
-Jeremiah Johnson, “Is Calling on the Lord’s Name All It Takes to Be Saved?”
Read the whole article here
(GSiV links)
‘Sự Lựa Chọn’ Là Gì?—Part 1
What is ‘election’?
‘Ý nghĩa của sự lựa chọn đối với người tin Chúa
‘Phao-lô tìm thấy trong sự nhận thức của tín hữu về sự chọn lựa của mình một ý nghĩa tôn giáo có ba điểm sau:
‘a. Điều này bày tỏ cho tín hữu thấy rằng sự cứu rỗi của mình, từ đầu đến cuối, đều thuộc về Đức Chúa Trời, một kết quả của ơn thương xót thần hựu đặc biệt. Sự cứu chuộc mà người tìm thấy chỉ trong Đấng Christ và nhận được chỉ bởi đức tin, không bắt nguồn từ một phẩm cách cá nhân nào, nhưng chỉ bởi ân điển – ân điển của sự chọn lựa. Mọi phước hạnh thuộc linh tuôn tràn trên người đều đến từ ý định lựa chọn của Đức Chúa Trời (Êph 1:3tt.). Do đó, nhận thức về sự lựa chọn của mình sẽ dạy người ấy làm vinh hiển Đức Chúa Trời, và chỉ một mình Đức Chúa Trời mà thôi (1Cô 1:31), và dâng cho Ngài sự ngợi khen mà Ngài đáng được nhận (Rô 11:36). Cuối cùng của sự chọn lựa đó là Đức Chúa Trời được ngợi khen (Êph 1:6, 12, 14), và ý tưởng về sự lựa chọn phải hướng tội nhân được chuộc đến sự ngợi khen và cảm tạ không thôi, như Phao-lô đã làm (Rô 11:33tt.; Êph 1:3tt.; 1Tê 11:3tt.; 2Tê 2:13tt.). Điều mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ về sự lựa chọn cho Phao-lô là một chủ đề, không phải là một lý luận, dành cho sự thờ phượng.’ -J. I. Packer
-New Bible Dictionary, I. H. Marshall, J. I. Packer, et.al. (Intervarsity) / Thánh Kinh Tân Từ Điển (UUC: 2009, tr. 1055)
(Tại GSiV: Xem Chi Tiết)
Relish God’s Supremacy—the New Birth
Do you enjoy God and his saving grace? Do you make much of him and his work in the new birth (regeneration)?
‘…the first effect of the power of God in the heart in REGENERATION, is to give the heart a Divine taste or sense; to cause it to have a relish of the loveliness and sweetness of the supreme excellency of the Divine nature; and indeed this is all the immediate effect of the Divine Power that there is, this is all the Spirit of God needs to do, in order to a production of [in order to produce] all good effects in the soul.’ -Jonathan Edwards, Treatise on Grace, p. 49
The new birth is something only God can bring about; no man ever brought about his own physical birth. And when the Lord breathes life into one of his elect, they delight in him.
Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi–12
Tín lý về ân điển quyền năng
‘Tín lý về ân điển quyền năng, hay thuyết Calvin căn bản là về sự vĩ đại và uy nghi của Đức Chúa Trời. Điều quan trọng nhất của con người là làm vinh hiển Đức Chúa Trời và tận hưởng Ngài mãi mãi, như Tín Điều Trích lượt Westminster nói đến. Thuyết Calvin đặc biệt liên quan đến sự thảo luận của chúng ta theo hướng này–Đức Chúa Trời là vĩ đại và đáng được ngợi khen. Ngài là Đấng quyền năng và là món quà vĩ đại nhất mà Ngài có thể ban cho người khác. Ngài sẽ không dừng lại để bênh vực cho mình qua sự chết và sự phục sinh của ngôi hai trong ba ngôi Đức Chúa Trời, Chúa Giê-xu-Thần Nhân.’
- The doctrines of sovereign grace
‘The doctrines of sovereign grace, or Calvinism, are primarily about the greatness and magnificence of God. The chief end of man is to glorify God and enjoy him forever, as the Westminster Shorter Catechism says….’
– Đoạn 10, GSiV: Xem chi tiết
Calvin on Election and Predestination–Part 3
What did the great theologian Jean (John) Calvin actually say about these doctrines? Below is one teacher’s wrong teachings about Calvin’s theology.
‘Predestination: Calvin believed that God made faith available as a gift to every person. It was the will of God that every person would accept Jesus as Savior by faith. However, God also knew that not everyone would receive Jesus and be saved. (Rom. 8:29-30; Eph. 1:5; 1:11)
‘He used numerous scriptures to teach his doctrine of predestination.
‘Calvin’s followers: After several years his followers began to take Calvin’s teaching about predestination to the extreme.
- ‘One group said that “predestination” means exactly what Calvin taught, that God willed in advance that all people can have faith and can believe in Christ, however not all men will believe and be saved.
- ‘A second group taught that God willed for certain people to be saved and some to be lost. They also used scriptures to prove this. They believed that people who are “predestined” to be saved will not be able to deny Christ. They will accept Jesus and be saved. God has willed that some people will not accept Jesus. No matter what they do, they will never accept Jesus and be saved. This position actually was adopted by most Calvinists and became official Calvinism even though Calvin did not teach this.
‘Many different groups of churches adopted one or the other of these positions.’
Dưới đây là đánh giá sai của một thầy về thần học của Calvin
‘Sự tiền định: Calvin tin rằng Đức Chúa Trời dành sẵn đức tin cho chúng ta như là tặng phẩm Ngài dành cho mọi người. Ý muốn Đức Chúa Trời là mỗi người phải tiếp nhận Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa bởi đức tin. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời cũng biết không phải mọi người đều tiếp nhận Chúa Giê-xu và được cứu. (Rô-ma 8:29-30; Ê-phê-sô 1:5; 1:11)
‘Ông dùng nhiều câu Kinh Thánh để dạy giáo lý của ông về sự tiền định.
‘Môn đồ của Calvin: Sau vài năm, môn đồ ông bắt đầu đưa lời dạy của Calvin về sự tiền định, tới chỗ cực đoan.
- ‘Một nhóm bảo rằng tiền định có nghĩa chính xác như Calvin đã dạy, rằng Đức Chúa Trời đã định trước cho mọi người đều có đức tin và có thể tin Đấng Cơ Đốc, tuy nhiên không phải mọi người đều tin và được cứu.
- ‘Một nhóm thứ hai bảo rằng Đức Chúa Trời muốn một số người nào đó được cứu và một số bị hư mất. Họ cũng dùng Kinh Thánh để chứng minh điểm này. Họ tin rằng những người đã “tiền định” được cứu, sẽ không có cách từ chối Đấng Cơ Đốc. Họ sẽ tiếp nhận Chúa Giê-xu và được cứu. Đức Chúa Trời muốn một số người nào đó sẽ không tiếp nhận Chúa Giê-xu. Dù có làm gì, họ cũng sẽ không bao giờ tiếp nhận Chúa Giê-xu và được cứu. Quan điểm này thực sự được đa số người theo Calvin chấp nhận và chính thức trở thành thuyết Calvin, dù rằng Calvin không dạy như vậy.
‘Nhiều nhóm hội thánh khác nhau đã chấp nhận hoặc quan điểm này hoặc quan điểm kia.’
Fortunately, we can read for ourselves what Calvin believed. (Dưới đây là thần học của Calvin.)
- Institutes, Book 3, chapter 21.
- Institutes, Book 3, chapter 22.
In summary, Calvin believed that because of sin no one on his own will choose Christ. God in his mercy chose those whom he would one day save. Because God elected (chose) them, they will repent and believe and be saved. Arminianism teaches that God looked down through time and saw that some people would believe, and therefore God choose them based on what he saw them doing. But this was not Calvin’s view.
Calvin on Election and Predestination–Part 2
‘Calvin next taught that salvation is a matter of Unconditional election apart from human merit or divine foreknowledge. Election is based on the sovereign will of God and is a dual predestination of some to salvation and others to condemnation.’
-Earle E. Cairns, Christianity through the Centuries, 1996, ed 3rd, p. 303.
‘Kế đó, Calvin dạy rằng sự cứu rỗi là vấn đề của sự chọn lựa vô điều kiện (Unconditional election) không kể đến công đức của con người hay sự biết trước thiên thượng. Sự chọn lựa được căn cứ trên ý muốn tối thượng của Đức Chúa Trời và là sự tiền định kép cho một số người được cứu và một số người bị đoán phạt’
-Earle E. Cairns, Cơ Đốc Giáo Trải Các Thế Kỷ, 2010, p. 342.
Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi–11
‘Liên quan tính chính thống, thuyết Calvin bảo vệ tín lý theo Kinh thánh về sự bền lòng của các thánh đồ, hay sự an ninh đời đời, điều quí báu đối với những người Tin lành, đặc biệt như các nhóm Báp-tít. Spurgeon đã nói: “Thuyết Calvin có sức mạnh ôn hòa nhằm giúp giữ vững con người với chân lý quan trọng” (Piper sermon, “Spurgeon,” quoting A Marvelous Ministry, p. 121). Do đó, thuyết Calvin không thể quá tệ hay đi quá xa với tính chính thống của Kinh thánh. Lý do nó bảo vệ sự dạy dỗ này và những sự dạy dỗ khác vì nó đi vào điều cốt lõi, căn nguyên của Kinh thánh–lấy Đức Chúa Trời làm trọng tâm. Các hệ thống như thuyết Arminian tập trung vào con người và truyền giảng trong khi đó thường đánh mất tầm nhìn về sự vĩ đại của Đức Chúa Trời. Thuyết Calvin, bởi ân điển của Đức Chúa Trời, nhìn thấy Đức Chúa Trời vĩ đại hơn tất cả mọi vật và không có điều gì ngăn cản Đức Chúa Trời được vinh hiển. Truyền giảng sẽ bị hạn chế bởi mặc định nhưng không phải vì đó là trọng tâm chính trong mô hình Calvin. Chính xác hơn vì thuyết Calvin tôn cao Đức Chúa Trời trên mọi vật, truyền giảng sẽ có vị trí cao trong một hệ thống như thế. Nhưng đối với tất cả Cơ đốc nhân thích truyền giáo và giữ tín lý về sự đảm bảo đời đời, nhiều người trong số họ khước từ những lẽ thật lớn về tín lý ân điển. Nhưng liệu chính những Cơ đốc nhân này có dành thời gian suy xét điều dạy trong Kinh thánh bảo vệ tín lý về sự đảm bảo đời đời là điều có liên hệ đến những sự dạy dỗ của thuyết Calvin?’
SOME ENGLISH:
‘Concerning orthodoxy, Calvinism protects the biblical doctrine of perseverance of the saints, or eternal security, which has always been precious to Protestants, especially such groups as Baptists. Spurgeon said, “Calvinism has in it a conservative force which helps to hold men to vital truth” (Piper sermon, “Spurgeon,” quoting A Marvelous Ministry, p. 121). Calvinism, thus, can’t be too bad or too far afield from biblical orthodoxy….’
– Đoạn 26, GSiV: Xem chi tiết
Calvin on Election and Predestination–Part 1
John Calvin’s summary on election
‘The doctrine of Election and Predestination. It is useful, necessary, and most sweet. Ignorance of it impairs the glory of God, plucks up humility by the roots, begets and fosters pride. The doctrine establishes the certainty of salvation, peace of conscience, and the true origin of the Church.’
- Institutes, Book 3, chapter 21.









