QUYỀN NĂNG CAO CẢ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI Ở VIỆT NAM (Ê-phê 1:4-5)

To the Ends of the Earth

“Does a belief in sovereign grace stymie missions and evangelism? If that belief is rightly understood and rightly applied, the answer is an emphatic no….”

-Jason K. Allen, President, Midwestern Baptist Theological Seminary and College

 

Too often those who least understand the biblical doctrine of Calvinism accuse Calvinists of a non-evangelistic spirit and practice. We do often wonder how frequently those same accusers share their faith with the lost. Nonetheless, the more we study church history the more we see that a life centered on God’s glory leads to passion and boldness for Christ’s mission.

 

To the Ends of the Earth: Calvin’s Missional Vision and Legacy

By Michael A. G. Haykin & C. Jeffrey Robinson Sr.

 

Table of Contents

  • For God So Loved the World”: John Calvin’s Missional Exegesis
  • A Sacrifice Well Pleasing to God”: The Dynamics of John Calvin’s Theology of Mission
  • How Very Important This Corner Is”: The Calvinistic Missions to France and Brazil
  • To Convert the World”: The Puritans and Being Missional in the Seventeenth Century
  • Advancing the Kingdom of Christ”: Missional Praying—the Example of Jonathan Edwards
  • An Instrument of Establishing the Empire of My Dear Lord”: Developing a Missional Passion—the Way of Samuel Pearce

 

(Tại GSiV Xem chi tiết đoạn 24)

Five Reasons to Embrace Unconditional Election

Here’s what Piper says:

  1. We embrace unconditional election because it is true.
  2. We embrace unconditional election because God designed it to make us fearless in our proclamation of his grace in a hostile world.
  3. We embrace unconditional election because God designed it to make us humble.
  4. We embrace unconditional election because God made it a powerful moral impetus for compassion, kindness, and forgiveness.
  5. We embrace unconditional election because it is a powerful incentive in our evangelism to help unbelievers, who are great sinners, not despair.

Read more in English

Năm lý do để ôm chặt lấy sự chọn lựa vô điều kiện

Lời của Piper là:

  1. Chúng ta ôm chặt lấy sự chọn lựa vô điều kiện bởi vì điều nầy là đúng.
  2. Chúng ta ôm chặt lấy sự chọn lựa vô điều kiện bởi vì Đức Chúa Trời đã định sẵn điều đó hầu cho chúng ta đủ sự dạn dĩ công bố ân điển của Ngài giữa một thế giới thù địch.
  3. Chúng ta ôm chặt lấy sự chọn lựa vô điều kiện bởi vì Đức Chúa Trời đã định sẵn hầu cho chúng ta biết mình là hèn mọn.
  4. Chúng ta ôm chặt lấy sự chọn lựa vô điều kiện bởi vì Đức Chúa Trời khiến điều nầy trở nên một sự thúc đẩy mạnh mẽ trong tấm lòng để có được sự thương xót, nhơn từ và sự tha thứ.
  5. Chúng ta ôm chặt lấy sự chọn lựa vô điều kiện bởi vì đó là sự thuc đẩy rất mạnh mẽ trong công cuộc truyền giáo để cứu lấy những con người là tội nhân đáng chết nhưng vẫn còn hy vọng dành cho họ.

Đọc hơn bằng Tiếng Việt

(Tại GSIV Xem chi tiết)

What is the goal of missions?

Chase Bowers & Scott Zeller have a helpful article:

“Previously I’d assumed the goal of missions is the practice of missions: evangelism, church planting, and so on…. That worship is the fuel and goal of missions not only informs our theology, but also our practice.”

Read more here: “The Goal of Missions May Not Be What You Think.”

Chia sẻ về Chúa

  • Thuộc Tính của Dức Chúa Trời
  • Tiến Thoái Lưỡng Nan Lới
  • Hành Động của Thiên Chúa
  • Phản Ứng của Con Người

Xem chi tiết

 

Pray for One Another / Cầu Nguyện Cho Nhau

James 5:16

“Therefore, confess your sins to one another and pray for one another, that you may be healed. The prayer of a righteous person has great power as it is working.”

James 5:16:

16 Vậy, hãy xưng tội cùng nhau, và cầu nguyện cho nhau, hầu cho anh em được lành bịnh: người công bình lấy lòng sốt sắng cầu nguyện, thật có linh nghiệm nhiều.

Xem chi tiết

Uy Quyền Tối Thượng Của Đức Chúa Trời–4

‘Nhưng sự thờ phượng cũng là chất kích thích của công tác truyền giáo. Lòng yêu Chúa và khát khao thờ phượng Ngài đặt trước lời mời ra đi rao giảng Tin Lành. Bạn không thể tán dương những gì bạn không yêu thượng. Các giáo sĩ sẽ không bao giờ  hô to “Hãy để mọi dân tộc vui mừng!” khi họ không thể nói từ đáy long rằng “Tôi sẽ vui vẻ nơi Đức Giê-hô-va… Hỡi Đấng Chí Cao, tôi sẽ vui vẻ, hớn hở nơi Ngài. Và ca tụng danh của Ngài” (Thi. 104:34; 9:2). Truyền giáo bắt đầu và kết thúc bằng sự thờ phượng.’

 

-John Piper, Hãy Để Mọi Dân Tộc Reo Vui (Let the Nations Be Glad) tr. 8.

 

  • “But worship is also the fuel of missions. Passion for God in worship precedes the offer of God in preaching….” p17

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi–8

‘Thông thường, người không theo phái Calvin, hay Arminian vì thiếu một danh xưng tốt hơn, nhận thức cách sai lầm rằng học thuyết năm điểm thuyết Calvin là học thuyết Calvin cực đoan (thái quá; hyper-Calvinism). Học thuyết Calvin cực đoan dạy rằng phúc âm không nên giảng cho tất cả mọi người vì những người không được chọn có thể nghe phúc âm không dành cho họ. Nhưng thuyết Calvin cực đoan là không theo Kinh thánh và Kinh thánh dạy rằng tín hữu có đặc ân và trách nhiệm công bố phúc âm cho tất cả mọi người, và kêu gọi mọi người ăn năn tin Chúa Cứu Thế Giê-xu. Tuy nhiên, một người theo thuyết năm điểm của Calvin tin rằng một số người nghe là người được chọn và một số thì không. Có người nằm trong số đó, có người thì không. Đó là việc Đức Chúa Trời biết và biến đổi lòng họ. Nhưng người theo Calvin không ngại chia sẻ phúc âm với tất cả những người mình gặp và mời gọi họ ăn năn. Spurgeon kiên trì chống lại những tín lý nguy hiểm của những người Calvin cực đoan trong thời của ông và chúng ta cũng làm như vậy. (See Murray’s book Spurgeon v. Hyper Calvinism. See also Johnson’s, “A Primer on Hyper-Calvinism.”) “Nhưng chúng ta đừng lẫn lộn giữa một người nhiệt thành theo năm điểm của người Calvin với một người theo Calvin cực đoan.”’

SOME ENGLISH:

‘Often non-Calvinists, or Arminians for lack of a better name, wrongly assume that five-point Calvinism is the same as hyper Calvinism. Hyper Calvinism teaches that the gospel shouldn’t be proclaimed to all because the non-elect may hear the gospel which isn’t for them….’

 

– Đoạn 19, GSiV: Xem chi tiết

 

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi–7

‘Lời chứng về ân điển của Đức Chúa Trời

‘Trong thần học cải chánh hay phái Calvin sâu sắc hơn năm điểm như người ta thường biết đến, thật hữu ích để trình bày những điểm này tại đây, thứ nhất theo hình thức lời chứng thực tế, và chúng cũng khách quan rõ ràng qua các nhiều thế kỷ:

‘Mặc dù được mang hình ảnh của Đức Chúa Trời trước khi tôi được Chúa Cứu Thế cứu tôi, tôi hoàn toàn bị hư mất trong tội lỗi mình, hư hỏng bởi tội lỗi, tôi không hề chọn Đức Chúa Trời cho mình. Trên thực tế, tôi đã chết trong tội lỗi. Đức Chúa Trời, trong sự thương xót của Ngài, đã chọn tôi trong quá khứ từ trước khi thế gian bắt đầu, không phải vì Ngài thấy tôi sẽ tin. Điều đó đã đặt tôi vào trong sự cứu rỗi. Tôi đã không thể tin khi tôi còn chết trong tội lỗi mình. Ngài muốn tôi tin để nhận được mọi ẩn điển. Khi Chúa Giê-xu chết trên thập tự giá, Ngài không chỉ khiến tôi được cứu, thành một tín hữu tiềm năng. Không, Ngài đã chết cho tôi và tất cả mọi người được chọn trong quá khứ lẫn tương lai. Huyết Chúa Giê-xu thật đã trả hết cho nợ tội của tôi. Khi thời điểm đã đến, Đức Chúa Trời đã tái sanh tấm lòng tôi, khiến tôi sống lại từ trong tội lỗi mình bởi việc tái tạo tấm lòng đã chết của tôi, tôi đã muốn điều Đức Chúa Trời muốn cho tôi–chính Ngài. Tôi đã không thể chọn Ngài hay sự cứu rỗi của Ngài nếu Ngài không chọn tôi trước. Điều đó hoàn toàn chỉ bởi ân điển vì tôi chỉ xứng đáng với địa ngục. Bây giờ tôi thực sự đã được cứu vào trong gia đình của Đấng Christ qua sự ăn năn và đức tin, ân điển của Đức Chúa Trời giúp tôi đươc cứu. Tôi có thể chạy vì Chúa Giê-xu đã chạy và chịu đựng cho đến đổ huyết. Chúa Giê-xu sẽ không hề bỏ tôi, như Ngài đã phán: “Phàm những kẻ Cha cho ta sẽ đến cùng ta, kẻ đến cùng ta thì ta không bỏ ra ngoài đâu” (Giăng 6:37)’

SOME ENGLISH:

Testimony of God’s grace

‘While reformed theology, or Calvinism, is deeper than just the five points it is often known for, it’s helpful to lay out these points here, first, in practical testimonial form, then as they have been more objectively defined through the centuries:

 

‘Despite being in God’s image before Christ saved me, I was so lost in my sin, so tainted by it, that I never would choose God on my own. In fact, I was dead in sin….’

 

– Đoạn 14-15, GSiV: Xem chi tiết

 

Free will and human responsibility: not the same

“The error of Arminianism is not that it holds the biblical doctrine of responsibility but that it equates this doctrine with an unbiblical doctrine of ‘free-will’ and preaches the two things as though they were synonymous. But man’s will is always exercised in harmony with his nature and, as his nature is at enmity to God, so is his will. Man being fallen, his will cannot be neutral or ‘free’ to act contrary to his nature…. Man’s spiritual inability is due solely to his sin and therefore it in no way lessens his responsibility. That man must be able to believe and repent in order to be responsible for unbelief and impenitency is a philosophical conception nowhere found in Scripture; in fact it is directly contrary to Scripture because, if responsibility were to be measured by ability, then it would mean that the more sinful a man becomes the less he is responsible!”

-Iain Murray’s The Forgotten Spurgeon, 1994, 61-62