QUYỀN NĂNG CAO CẢ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI Ở VIỆT NAM (Ê-phê 1:4-5)

Pray for One Another / Cầu Nguyện Cho Nhau

James 5:16

“Therefore, confess your sins to one another and pray for one another, that you may be healed. The prayer of a righteous person has great power as it is working.”

James 5:16:

16 Vậy, hãy xưng tội cùng nhau, và cầu nguyện cho nhau, hầu cho anh em được lành bịnh: người công bình lấy lòng sốt sắng cầu nguyện, thật có linh nghiệm nhiều.

Xem chi tiết

Uy Quyền Tối Thượng Của Đức Chúa Trời–4

‘Nhưng sự thờ phượng cũng là chất kích thích của công tác truyền giáo. Lòng yêu Chúa và khát khao thờ phượng Ngài đặt trước lời mời ra đi rao giảng Tin Lành. Bạn không thể tán dương những gì bạn không yêu thượng. Các giáo sĩ sẽ không bao giờ  hô to “Hãy để mọi dân tộc vui mừng!” khi họ không thể nói từ đáy long rằng “Tôi sẽ vui vẻ nơi Đức Giê-hô-va… Hỡi Đấng Chí Cao, tôi sẽ vui vẻ, hớn hở nơi Ngài. Và ca tụng danh của Ngài” (Thi. 104:34; 9:2). Truyền giáo bắt đầu và kết thúc bằng sự thờ phượng.’

 

-John Piper, Hãy Để Mọi Dân Tộc Reo Vui (Let the Nations Be Glad) tr. 8.

 

  • “But worship is also the fuel of missions. Passion for God in worship precedes the offer of God in preaching….” p17

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi–8

‘Thông thường, người không theo phái Calvin, hay Arminian vì thiếu một danh xưng tốt hơn, nhận thức cách sai lầm rằng học thuyết năm điểm thuyết Calvin là học thuyết Calvin cực đoan (thái quá; hyper-Calvinism). Học thuyết Calvin cực đoan dạy rằng phúc âm không nên giảng cho tất cả mọi người vì những người không được chọn có thể nghe phúc âm không dành cho họ. Nhưng thuyết Calvin cực đoan là không theo Kinh thánh và Kinh thánh dạy rằng tín hữu có đặc ân và trách nhiệm công bố phúc âm cho tất cả mọi người, và kêu gọi mọi người ăn năn tin Chúa Cứu Thế Giê-xu. Tuy nhiên, một người theo thuyết năm điểm của Calvin tin rằng một số người nghe là người được chọn và một số thì không. Có người nằm trong số đó, có người thì không. Đó là việc Đức Chúa Trời biết và biến đổi lòng họ. Nhưng người theo Calvin không ngại chia sẻ phúc âm với tất cả những người mình gặp và mời gọi họ ăn năn. Spurgeon kiên trì chống lại những tín lý nguy hiểm của những người Calvin cực đoan trong thời của ông và chúng ta cũng làm như vậy. (See Murray’s book Spurgeon v. Hyper Calvinism. See also Johnson’s, “A Primer on Hyper-Calvinism.”) “Nhưng chúng ta đừng lẫn lộn giữa một người nhiệt thành theo năm điểm của người Calvin với một người theo Calvin cực đoan.”’

SOME ENGLISH:

‘Often non-Calvinists, or Arminians for lack of a better name, wrongly assume that five-point Calvinism is the same as hyper Calvinism. Hyper Calvinism teaches that the gospel shouldn’t be proclaimed to all because the non-elect may hear the gospel which isn’t for them….’

 

– Đoạn 19, GSiV: Xem chi tiết

 

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi–7

‘Lời chứng về ân điển của Đức Chúa Trời

‘Trong thần học cải chánh hay phái Calvin sâu sắc hơn năm điểm như người ta thường biết đến, thật hữu ích để trình bày những điểm này tại đây, thứ nhất theo hình thức lời chứng thực tế, và chúng cũng khách quan rõ ràng qua các nhiều thế kỷ:

‘Mặc dù được mang hình ảnh của Đức Chúa Trời trước khi tôi được Chúa Cứu Thế cứu tôi, tôi hoàn toàn bị hư mất trong tội lỗi mình, hư hỏng bởi tội lỗi, tôi không hề chọn Đức Chúa Trời cho mình. Trên thực tế, tôi đã chết trong tội lỗi. Đức Chúa Trời, trong sự thương xót của Ngài, đã chọn tôi trong quá khứ từ trước khi thế gian bắt đầu, không phải vì Ngài thấy tôi sẽ tin. Điều đó đã đặt tôi vào trong sự cứu rỗi. Tôi đã không thể tin khi tôi còn chết trong tội lỗi mình. Ngài muốn tôi tin để nhận được mọi ẩn điển. Khi Chúa Giê-xu chết trên thập tự giá, Ngài không chỉ khiến tôi được cứu, thành một tín hữu tiềm năng. Không, Ngài đã chết cho tôi và tất cả mọi người được chọn trong quá khứ lẫn tương lai. Huyết Chúa Giê-xu thật đã trả hết cho nợ tội của tôi. Khi thời điểm đã đến, Đức Chúa Trời đã tái sanh tấm lòng tôi, khiến tôi sống lại từ trong tội lỗi mình bởi việc tái tạo tấm lòng đã chết của tôi, tôi đã muốn điều Đức Chúa Trời muốn cho tôi–chính Ngài. Tôi đã không thể chọn Ngài hay sự cứu rỗi của Ngài nếu Ngài không chọn tôi trước. Điều đó hoàn toàn chỉ bởi ân điển vì tôi chỉ xứng đáng với địa ngục. Bây giờ tôi thực sự đã được cứu vào trong gia đình của Đấng Christ qua sự ăn năn và đức tin, ân điển của Đức Chúa Trời giúp tôi đươc cứu. Tôi có thể chạy vì Chúa Giê-xu đã chạy và chịu đựng cho đến đổ huyết. Chúa Giê-xu sẽ không hề bỏ tôi, như Ngài đã phán: “Phàm những kẻ Cha cho ta sẽ đến cùng ta, kẻ đến cùng ta thì ta không bỏ ra ngoài đâu” (Giăng 6:37)’

SOME ENGLISH:

Testimony of God’s grace

‘While reformed theology, or Calvinism, is deeper than just the five points it is often known for, it’s helpful to lay out these points here, first, in practical testimonial form, then as they have been more objectively defined through the centuries:

 

‘Despite being in God’s image before Christ saved me, I was so lost in my sin, so tainted by it, that I never would choose God on my own. In fact, I was dead in sin….’

 

– Đoạn 14-15, GSiV: Xem chi tiết

 

Free will and human responsibility: not the same

“The error of Arminianism is not that it holds the biblical doctrine of responsibility but that it equates this doctrine with an unbiblical doctrine of ‘free-will’ and preaches the two things as though they were synonymous. But man’s will is always exercised in harmony with his nature and, as his nature is at enmity to God, so is his will. Man being fallen, his will cannot be neutral or ‘free’ to act contrary to his nature…. Man’s spiritual inability is due solely to his sin and therefore it in no way lessens his responsibility. That man must be able to believe and repent in order to be responsible for unbelief and impenitency is a philosophical conception nowhere found in Scripture; in fact it is directly contrary to Scripture because, if responsibility were to be measured by ability, then it would mean that the more sinful a man becomes the less he is responsible!”

-Iain Murray’s The Forgotten Spurgeon, 1994, 61-62

 

 

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi–6

‘Như vậy chúng ta rõ ràng từ đầu rằng nhà truyền giáo Spurgeon là một người theo Calvin, có rất nhiều bằng chứng:

 

  • ‘“Tôi có ý kiến riêng của mình rằng không có gì bằng việc giảng Đấng Christ và việc bị đóng đinh của Ngài trừ phi chúng ta giảng điều mà thời nay gọi là thuyết Calvin. Đó là tên thông dụng gọi là phái Calvin; thuyết Calvin là về phúc âm, và không có gì khác. Tôi không tin chúng ta có thể giảng Phúc âm… trừ phi chúng ta giảng về quyền năng của Đức Chúa Trời trong sự tha thứ của ân điển Ngài; hay trừ phi chúng ta tôn cao Đấng được chọn, không hề thay đổi, đời đời, trường tồn, tình yêu chiến thắng của Đức Giê-hô-va; hay tôi không nghĩ chúng ta có thể giảng phúc âm trừ phi chúng ta đặt nó trên sự cứu chuộc đặc biệt của những người được chọn của Ngài mà Đấng Christ đã thực hiện trên thập tự giá; tôi cũng không hiểu một phúc âm đã cho phép các thánh đồ sa ngã sau khi họ được kêu gọi.” (Packer, Quest, p. 345, note 7, quoting Spurgeon, The Early Years, Autobiography, 172.)’

 

SOME ENGLISH:

‘So that we’re clear from the beginning that the evangelistic Spurgeon was a Calvinist, here is overwhelming proof:

 

  • ‘“I have my own private opinion that there is no such thing as preaching Christ and him crucified, unless we preach what is nowadays called Calvinism. It is a nickname to call it Calvinism; Calvinism is the gospel, and nothing else….’ (Packer, Quest, p. 345, note 7, quoting Spurgeon, The Early Years, Autobiography, p. 172.)

 

– Đoạn 12, GSiV: Xem chi tiết

 

TULIP & GOSPEL

 

I recently came across an interesting suggestion. Read here and see what you think:

“So, what is the suggested acronym?  G.O.S.P.E.L.  What better way to make reference to the Doctrines of Grace?  Calvinism, after all, is about the sovereign grace of God in the Gospel of Jesus Christ.  The Doctrines of Grace are the biblical teachings regarding G.O.S.P.E.L. grace and glory.  Allow me, therefore, to supply a brief explanation of this acronym.

“G.O.S.P.E.L.

“God’s Glory: Foundational to the Doctrines of Grace is the biblical teaching that God’s redeeming work is to the praise of His glorious grace (Eph. 1:3-14 especially vv. 6, 12; Rom. 11:33-36).

“G.O.S.P.E.L.

“Original Sin: This point replaces Total Depravity in T.U.L.I.P.  The doctrine of original sin is greatly lost in our day, which is one good reason for making this change.

G.O.S.P.E.L

“Sovereign Election: This point replaces Unconditional Election in T.U.L.I.P.  The point of unconditional election is that God’s choice of His redeemed people was not rooted in anything they have done, but simply in the sovereign and good purposes of God (otherwise it’s not grace).

“G.O.S.P.E.L.

“Particular Atonement: This point replaces Limited Atonement in T.U.L.I.P.  We Calvinists are often forced to clarify the meaning of limited atonement, and our clarifications nearly always include the use of the word ‘particular’.

“G.O.S.P.E.L.

“Effectual Grace: This point replaces irresistible grace in T.U.L.I.P.  Like the previous point, I believe this point will also provide much needed clarification.

“G.O.S.P.E.L.

“Lasting Grace: This point replaces Perseverance of the Saints in T.U.L.I.P.”

Read the rest here reformedbaptistdaily

 

Are you praying for God’s work in Vietnam?

Here’s a request at another site:

“Ancestor Worship: Pray for new believers to stand firm in their faith, especially in the face of opposition from family members.”

(Check them out at: http://www.pray4vn.org/share/summary/)

 

 

See our GSiV page:

Xem chi tiết

 

 

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi–5

Charles Spurgeon đã đi theo thuyết Calvin mà chúng ta sẽ bàn đến ở đây. Ông nói: “Đối với tôi, Calvin cho rằng cương vị của Đức Chúa Trời đời đời là ở đầu của mọi sự. Tôi quan sát mọi thứ qua sự liên hệ của nó với sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Tôi nhìn thấy Đức Chúa Trời trước tiên, và kế đến là con người… Thưa anh chị em, nếu chúng ta sống trong sự cảm thông với Đức Chúa Trời, chúng ta vui mừng nghe Ngài phán: “Ta là Đức Chúa Trời và chẳng có Đấng nào khác” (Piper sermon, “Spurgeon,” quoting An All Round Ministry, p. 337).’

SOME ENGLISH:

 ‘Charles Spurgeon embraced the kind of Calvinism we’re going to be discussing here. He said, “To me, Calvinism means the placing of the eternal God at the head of all things….”’

– Đoạn 11, GSiV: Xem chi tiết