QUYỀN NĂNG CAO CẢ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI Ở VIỆT NAM (Ê-phê 1:4-5)

Discerning what Scripture says: Part 6

More Ryrie on non-Lordship

In continuing this idea about Lordship salvation, it is to Ryrie’s credit that he quotes people who disagree with him. Again the Bible, against Ryrie, supports what this theologian below says:

‘The lordship view expressly states the necessity of acknowledging Christ as the Lord and Master of one’s life in the act of receiving Him as Savior. These are not two different, sequential acts (or successive steps), but rather one act of pure, trusting faith. It takes little theological acumen to discern the base differences between the lordship and nonlordship views of the presentation of the Gospel.’

 

‘Quan điểm quyền tể trị của Chúa trình bày rõ rành tính thiết yếu của việc công nhận Đấng Christ làm Chúa và Chủ của đời sống mình qua việc tiếp nhận Ngài làm Cứu Chúa mình. Đây không phải là hai hành động khác nhau, kế tiếp nhau (hay là những bước liên tiếp nhau), nhưng trái lại là một hành động của đức tin thuần túy và phó thác. Không cần phải có nhiều sáng suốt về thần học mới phân biệt được những khác biệt cơ bản giữa những quan điểm đòi hỏi quyền tể trị của Chúa với quan điểm không đòi hỏi quyền tể trị của Chúa trong sự trình bày Tin Lành.’

 

-K. L. Gentry, “The Great Option,” Baptist Reformation Review 5, 1976, (quoted by Charles Ryrie, Thần Học Căn Bản, p. 417 / Ryrie, Basic Theology, p. 390).

Regeneration, God’s Grace, New Birth–Part 4

“We’ve been telling people the lie…that if you do this [pray a prayer], then God will make you born again. You see the only difference between baptismal regeneration and decisional regeneration is the new birth is just attached to a different act. On one it’s water and on the other it’s a prayer.”

-Audio: Timothy Juhnke “Decisional Regeneration,” Around the 27:00-29:00 minute point.

Regeneration, God’s Grace, New Birth–Part 3

A popular statement of faith equates regeneration with conversion, which could be intentional or accidental:

 

  • ‘“The Gospel is the power of God for salvation to everyone who believes” and those who receive Jesus Christ by faith are born again, have their sins forgiven, become children of God, are a new creation in Christ….”’

 

  • ‘“Tin Lành là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin” và những ai tiếp nhận Đức Chúa Jêsus Christ bởi đức tin là những người được tái sanh, được tha tội, trở nên con cái Đức Chúa Trời, là một tạo vật mới trong Đấng Christ….”’

 

According to this statement of faith, humans co-operate with God to be born again (the ‘new birth’). But biblically, regeneration while related to conversion is not the same. Man cannot decide to be born again (‘decisional regeneration’). Regeneration is something only God does so that humans will be converted–repent and believe. The New Testament’s passive voice (“being born again”) on the doctrine of regeneration is helpful. Here are some key verses on regeneration:

 

John 3:3–8 (NIrV) “Jesus replied, “What I’m about to tell you is true. No one can see God’s kingdom without being born again.” “How can I be born when I am old?” Nicodemus asked. “I can’t go back inside my mother! I can’t be born a second time!” Jesus answered, “What I’m about to tell you is true. No one can enter God’s kingdom without being born through water and the Holy Spirit. People give birth to people. But the Spirit gives birth to spirit. You should not be surprised when I say, ‘You must all be born again.’ “The wind blows where it wants to. You hear the sound it makes. But you can’t tell where it comes from or where it is going. It is the same with everyone who is born through the Spirit.””

  • BPT Chúa Giê-xu đáp, “Tôi bảo thật: Không ai có thể vào Nước Trời nếu không sinh lại.” 4 Ni-cô-đem thắc mắc, “Người già rồi thì làm thế nào mà sinh lại được? Chẳng lẽ trở vào lòng mẹ mà sinh ra lần nữa sao?” 5 Chúa Giê-xu đáp, “Tôi bảo thật, không ai có thể vào Nước Trời nếu không sinh bằng nước và Thánh Linh. 6 Sự sống xác thể do con người theo phần thể xác sinh ra, nhưng sự sống thiêng liêng do Thánh Linh sinh ra. 7 Đừng ngạc nhiên về điều tôi nói ‘Mọi người phải sinh lại.’ 8 Gió muốn thổi đâu cũng được. Ông nghe tiếng gió nhưng không biết gió từ đâu đến rồi sẽ thổi đi đâu. Ai được sinh bởi Thánh Linh cũng giống như vậy.”

Titus 3:5 (NIrV) “He saved us. It wasn’t because of the good things we had done. It was because of his mercy. He saved us by washing away our sins. We were born again. The Holy Spirit gave us new life.”

  • BPT Thì Ngài đã cứu chúng ta do lòng nhân ái của Ngài chứ không phải nhờ vào việc lành nào của chúng ta cả. Ngài cứu chúng ta do sự rửa sạch chúng ta bằng sự tái sinh và đổi mới qua Thánh Linh.

1 Peter 1:3 (NIrV) “Give praise to the God and Father of our Lord Jesus Christ. In his great mercy he has given us a new birth and a hope that is alive. It is alive because Jesus Christ rose from the dead.”

  • BPT Chúc tụng Thượng Đế, Cha của Giê-xu, Chúa Cứu Thế chúng ta. Nhờ lòng nhân ái lớn lao của Ngài chúng ta được sinh lại để nhận một hi vọng sống vì Chúa Cứu Thế Giê-xu đã sống lại từ trong kẻ chết.

 

(Đoạn 39, GSiV: Xem chi tiết)

Regeneration, God’s Grace, New Birth–Part 2

Charles Spurgeon says, “If any man is saved, it is not because he willed to be saved. If any man be brought to Christ, it is not of any effort of his, but the root, the cause, the motive of the salvation of any one human being, and of all the chosen in heaven, is to be found in the predestinating purpose and sovereign distinguishing will of the Lord our God.” [vol 9, year 1863, 355], “The Minister’s Stock-Taking

-Quoted in Murray, Iain. The Forgotten Spurgeon. p. 84

Discerning what Scripture says: Part 5

Ryrie on non-Lordship: an unbiblical view

 

‘C. The Fallacy of Making Surrender of Life a Part of the Gospel

‘1. The question. The question is simply this: Does one have to make Christ Lord of his life or be willing to do so in order to be saved? …Simply stated the question is: Does the lack of commitment to the lordship of Christ over the years of one’s life mean a lack of saving faith? …Theologically, then, this says that there were people at Ephesus who became believers in Christ knowing they should give up their use of magic but who did not (some for as long as two years), but who nevertheless were born again. Their salvation did not depend on faith plus submission to the lordship of Christ over their use of magic.

‘3. Some observations. This lordship teaching fails to distinguish salvation from discipleship and makes requirements for discipleship prerequisites for salvation. Our Lord distinguished the two (Luke 14:16–33).’

-Charles Ryrie, Basic Theology, p. 390-391

‘C. Sai Lầm Khi Biến Sự Phó Dâng Đời Sống Thành Một Phần Của Tin Lành

“1. Thắc mắc. Câu hỏi đơn giản là thế nầy: Có phải người ta buộc phải tôn hay sẵn lòng tôn Đấng Christ làm Chúa của đời sống mình thì mới được cứu không?… Câu hỏi đơn giản là: Thiếu phó thác cho quyền tể trị của Chúa trong những năm theo Ngài có phải chính là thiếu đức tin cứu rỗi không?…Như vậy, về mặt thần học, điều nầy nói lên rằng: tại Êphêsô có những người đã trở thành tín đồ Đấng Christ và biết phải từ bỏ việc dùng pháp thuật của mình, nhưng họ đã không bỏ (có người giữ lâu đến hai năm), nhưng dầu vậy họ vẫn là người đã được tái sanh. Sự cứu rỗi của họ đã không tùy thuộc vào “đức tin cộng với sự đầu phục quyền tể trị của Chúa” trên việc họ dùng pháp thuật.

‘3. Một số nhận định khác. Sự dạy dỗ về quyền tể trị của Chúa nầy không phân biệt giữa sự cứu rỗi với công tác môn đồ hóa, và đã biến những đòi hỏi của công tác môn đồ hóa trở thành những điều kiện tiên quyết cho sự cứu rỗi. Chúa chúng ta phân biệt hai việc nầy (Luca 14:16-33).’

-Charles Ryrie, Thần Học Căn Bản, p. 416-418

To Ryrie’s credit, he does quote people who disagree with him. It’s good that he does because here is what one of them says which, is more in line with what Scripture says:

‘Something more than “believing” is necessary to salvation. A heart that is steeled in rebellion against God cannot savingly believe: it must first be broken.… No one can receive Christ as his Saviour while he rejects Him as Lord! It is true the preacher adds that the one who accepts Christ should also surrender to Him as Lord, but he once spoils it by assertion that though the convert fails to do so nevertheless heaven is sure to him. That is one of the devil’s lies.’

‘Để được cứu rỗi, cần phải có thêm điều gì đó nữa ngoài việc “tin.” Một tấm lòng cứng cỏi chống nghịch Đức Chúa Trời thì không thể tin để được cứu được: trước hết nó phải được đập vỡ ra…. Không ai có thể tiếp nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa của mình đang khi từ chối Ngài làm Cứu Chúa của mình! Nhà truyền đạo đã bổ sung đúng khi nói ai tiếp nhận Đấng Christ thì cũng nên đầu phục Ngài là Chúa, nhưng sẽ làm hỏng việc ấy ngay khi ông khẳng định dầu người tin Chúa có không đầu phục đi nữa thì vẫn chắc chắn được vào thiên đàng. Đó là một trong những lời dối trá của Satan.’

Arthur W. Pink, Present-Day Evangelism, p. 14-15 (quoted by Charles Ryrie, Thần Học Căn Bản, p. 417/ Ryrie, Basic Theology, p. 390).

Regeneration, God’s Grace, New Birth–Part 1

Charles Spurgeon says, “Sinner, unconverted sinner, I warn thee thou canst never cause thyself to be born again, and though the new birth is absolutely necessary, it is absolutely impossible to thee, unless God the Spirit shall do it….” [vol 3, year 1858, 340]

 

LANGUAGE UPDATE: “Sinner, unconverted sinner, I warn you that you can never cause yourself to be born again, and though the new birth is absolutely necessary, it is absolutely impossible to you, unless God the Spirit shall do it….”

-Quoted in Murray, Iain. The Forgotten Spurgeon. p. 87

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi–9

Có lẽ lý do mà rất nhiều mục sư thúc giục các tín hữu chia sẻ phúc âm chính là phương pháp truyền giảng của chúng ta (tin dễ dàng–hãy mời Chúa Giê-xu vào lòng bạn; hãy có một quyết định cho Ngài) đã chiếm vị trí của chúng ta với người ngoại đạo. Họ ở trong tòa nhà nhưng không ở trong Hội thánh. Có lẽ đây là lí do vì sao các lãnh đạo phải dùng sức thuyết phục khác thường và những chiến thuật tội lỗi vì không có sự sống trong chỗ ghế ngồi để thúc đẩy, không có Thánh Linh ở trong, và không có tấm lòng bằng thịt–chỉ là một tấm lòng bằng đá meo mốc nguội lạnh. Mọi sức thuyết phục phải được tuôn ra từ bên ngoài qua mục sư làm cho họ cảm thấy tội lỗi, xấu hỗ, hoặc sợ hãi, bất kỳ điều nào văn hóa họ có thể gợi lên. Vì thế sự liên hoàn của xu hướng tin dễ dàng trong Hội thánh chúng ta không phải là điều chúng ta cần. (Listen to Juhnke’s sermon, “Decisional Regeneration.”)’

SOME ENGLISH:

Maybe the reason so many pastors have to prod church members to share the gospel is that our very method of evangelism (easy believeism—invite Jesus into your heart; make a decision for him) has populated our pews with pagans….’

 

– Đoạn 39, GSiV: Xem chi tiết

 

Discerning what Scripture says: Part 2

Here’s some bad theology:

 

‘The One True God allows every person to choose spiritual light or spiritual darkness. Through his Spirit he is always trying to help people understand his wonderful message: My Son, Jesus Christ, is the light of the world. “The person who follows him shall not live in darkness, but shall have the light of life.”’

 

‘Đức Chúa Trời Chân Thật duy nhất đã cho phép mọi người quyền tự do lựa chọn để sống trong sự sáng hay trong sự mù lòa về thuộc linh. Qua Đức Thánh Linh, Ngài giúp chúng ta hiểu được sứ điệp mầu nhiệm của Ngài: “Chúa Giê-xu, Con Ngài là sự sáng của thế gian. Những ai tin theo Ngài thì không sống trong tối tăm nhưng có ánh sáng của sự sống.”’

 

The section that says, “My Son, Jesus Christ…” is great. But the part about “God allows” and “he is trying to help” gives the false view that God is helpless, depending on the decisions of humans. If he didn’t change our hearts and open our eyes, no one would believe. We choose him because he has first chosen us. But God isn’t helpless in the process.

 

-“The Light of the World,” Book 2, p. 14-15

 

(Xem chi tiết Đoạn 42, GSiV)

 

Discerning what Scripture says: Part 1

Here’s some good theology:

 

‘Many people who listened to Jesus as he taught had trouble in believing that he was the Son of God. They did not believe that he was sent to the earth by God the Father. Instead of believing his words, many people chose to believe in a plan of religion made by men. They did not understand that God’s ways of doing things are much better than men’s way of doing things.’

 

‘Nhiều người đã nghe Đức Chúa Giê-xu giảng dạy nhưng họ không tin Ngài là Con của Đức Chúa Trời và đã được Đức Chúa Cha sai đến trần gian. Thay vì tin vào Lời Ngài, con người tin vào tôn giáo mà họ tự tạo ra. Họ không biết rằng đường lối của Đức Chúa Trời là tốt đẹp hơn đường lối của con người.’

 

This teaching is good because as natural unsaved humans we all have trouble believing. It takes God to open our eyes.

 

-“The Light of the World,” Book 2, p. 8-9

 

(Xem chi tiết Đoạn 42, GSiV)

Five Reasons to Embrace Unconditional Election

Here’s what Piper says:

  1. We embrace unconditional election because it is true.
  2. We embrace unconditional election because God designed it to make us fearless in our proclamation of his grace in a hostile world.
  3. We embrace unconditional election because God designed it to make us humble.
  4. We embrace unconditional election because God made it a powerful moral impetus for compassion, kindness, and forgiveness.
  5. We embrace unconditional election because it is a powerful incentive in our evangelism to help unbelievers, who are great sinners, not despair.

Read more in English

Năm lý do để ôm chặt lấy sự chọn lựa vô điều kiện

Lời của Piper là:

  1. Chúng ta ôm chặt lấy sự chọn lựa vô điều kiện bởi vì điều nầy là đúng.
  2. Chúng ta ôm chặt lấy sự chọn lựa vô điều kiện bởi vì Đức Chúa Trời đã định sẵn điều đó hầu cho chúng ta đủ sự dạn dĩ công bố ân điển của Ngài giữa một thế giới thù địch.
  3. Chúng ta ôm chặt lấy sự chọn lựa vô điều kiện bởi vì Đức Chúa Trời đã định sẵn hầu cho chúng ta biết mình là hèn mọn.
  4. Chúng ta ôm chặt lấy sự chọn lựa vô điều kiện bởi vì Đức Chúa Trời khiến điều nầy trở nên một sự thúc đẩy mạnh mẽ trong tấm lòng để có được sự thương xót, nhơn từ và sự tha thứ.
  5. Chúng ta ôm chặt lấy sự chọn lựa vô điều kiện bởi vì đó là sự thuc đẩy rất mạnh mẽ trong công cuộc truyền giáo để cứu lấy những con người là tội nhân đáng chết nhưng vẫn còn hy vọng dành cho họ.

Đọc hơn bằng Tiếng Việt

(Tại GSIV Xem chi tiết)

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi–7

‘Lời chứng về ân điển của Đức Chúa Trời

‘Trong thần học cải chánh hay phái Calvin sâu sắc hơn năm điểm như người ta thường biết đến, thật hữu ích để trình bày những điểm này tại đây, thứ nhất theo hình thức lời chứng thực tế, và chúng cũng khách quan rõ ràng qua các nhiều thế kỷ:

‘Mặc dù được mang hình ảnh của Đức Chúa Trời trước khi tôi được Chúa Cứu Thế cứu tôi, tôi hoàn toàn bị hư mất trong tội lỗi mình, hư hỏng bởi tội lỗi, tôi không hề chọn Đức Chúa Trời cho mình. Trên thực tế, tôi đã chết trong tội lỗi. Đức Chúa Trời, trong sự thương xót của Ngài, đã chọn tôi trong quá khứ từ trước khi thế gian bắt đầu, không phải vì Ngài thấy tôi sẽ tin. Điều đó đã đặt tôi vào trong sự cứu rỗi. Tôi đã không thể tin khi tôi còn chết trong tội lỗi mình. Ngài muốn tôi tin để nhận được mọi ẩn điển. Khi Chúa Giê-xu chết trên thập tự giá, Ngài không chỉ khiến tôi được cứu, thành một tín hữu tiềm năng. Không, Ngài đã chết cho tôi và tất cả mọi người được chọn trong quá khứ lẫn tương lai. Huyết Chúa Giê-xu thật đã trả hết cho nợ tội của tôi. Khi thời điểm đã đến, Đức Chúa Trời đã tái sanh tấm lòng tôi, khiến tôi sống lại từ trong tội lỗi mình bởi việc tái tạo tấm lòng đã chết của tôi, tôi đã muốn điều Đức Chúa Trời muốn cho tôi–chính Ngài. Tôi đã không thể chọn Ngài hay sự cứu rỗi của Ngài nếu Ngài không chọn tôi trước. Điều đó hoàn toàn chỉ bởi ân điển vì tôi chỉ xứng đáng với địa ngục. Bây giờ tôi thực sự đã được cứu vào trong gia đình của Đấng Christ qua sự ăn năn và đức tin, ân điển của Đức Chúa Trời giúp tôi đươc cứu. Tôi có thể chạy vì Chúa Giê-xu đã chạy và chịu đựng cho đến đổ huyết. Chúa Giê-xu sẽ không hề bỏ tôi, như Ngài đã phán: “Phàm những kẻ Cha cho ta sẽ đến cùng ta, kẻ đến cùng ta thì ta không bỏ ra ngoài đâu” (Giăng 6:37)’

SOME ENGLISH:

Testimony of God’s grace

‘While reformed theology, or Calvinism, is deeper than just the five points it is often known for, it’s helpful to lay out these points here, first, in practical testimonial form, then as they have been more objectively defined through the centuries:

 

‘Despite being in God’s image before Christ saved me, I was so lost in my sin, so tainted by it, that I never would choose God on my own. In fact, I was dead in sin….’

 

– Đoạn 14-15, GSiV: Xem chi tiết

 

Đức Chúa Trời và Sự Cứu Rỗi–6

‘Như vậy chúng ta rõ ràng từ đầu rằng nhà truyền giáo Spurgeon là một người theo Calvin, có rất nhiều bằng chứng:

 

  • ‘“Tôi có ý kiến riêng của mình rằng không có gì bằng việc giảng Đấng Christ và việc bị đóng đinh của Ngài trừ phi chúng ta giảng điều mà thời nay gọi là thuyết Calvin. Đó là tên thông dụng gọi là phái Calvin; thuyết Calvin là về phúc âm, và không có gì khác. Tôi không tin chúng ta có thể giảng Phúc âm… trừ phi chúng ta giảng về quyền năng của Đức Chúa Trời trong sự tha thứ của ân điển Ngài; hay trừ phi chúng ta tôn cao Đấng được chọn, không hề thay đổi, đời đời, trường tồn, tình yêu chiến thắng của Đức Giê-hô-va; hay tôi không nghĩ chúng ta có thể giảng phúc âm trừ phi chúng ta đặt nó trên sự cứu chuộc đặc biệt của những người được chọn của Ngài mà Đấng Christ đã thực hiện trên thập tự giá; tôi cũng không hiểu một phúc âm đã cho phép các thánh đồ sa ngã sau khi họ được kêu gọi.” (Packer, Quest, p. 345, note 7, quoting Spurgeon, The Early Years, Autobiography, 172.)’

 

SOME ENGLISH:

‘So that we’re clear from the beginning that the evangelistic Spurgeon was a Calvinist, here is overwhelming proof:

 

  • ‘“I have my own private opinion that there is no such thing as preaching Christ and him crucified, unless we preach what is nowadays called Calvinism. It is a nickname to call it Calvinism; Calvinism is the gospel, and nothing else….’ (Packer, Quest, p. 345, note 7, quoting Spurgeon, The Early Years, Autobiography, p. 172.)

 

– Đoạn 12, GSiV: Xem chi tiết