QUYỀN NĂNG CAO CẢ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI Ở VIỆT NAM (Ê-phê 1:4-5)

A Few Confessions of Faith in Vietnamese

Confessions of Faith in Vietnamese:

Đức Tin và Thông Điệp của Người Báp-tít (Baptist Faith and Message, 2000)

Resources/Tài Liệu

Reformation History: Five Onlys–part 10

“CHỈ DUY NHẤT” NĂM CUỘC CẢI CHÁNH

 

Ngày cải chánh là ngày 31 tháng 10, là ngày mà Martin Luther (1483-1546) đóng đinh lên 95 câu gốc của ông ấy. Như vậy, “solas” (“chỉ duy nhất”) năm là…

 

  1. Chỉ có duy nhất Kinh Thánh: Chỉ có duy nhất Kinh Thánh là có quyền năng cho cuộc sống và thực hành trong Hội Thánh. (Chỉ có một mình Kinh Thánh; Tiếng La-tinh: Sola Scriptura)

 

  1. Chỉ có duy nhất ân điển: Chỉ có duy nhất ân điển cao cả của Đức Chúa Trời là lý do cho sự cứu rỗi của chúng ta mà thật sự không cần bất cứ tiềm năng hay là đạo đức nào của con người, sự cố gắng, đức tin, hay là việc làm. (Chỉ có một mình ân điển; Tiếng La-tinh Sola Gratia)

 

  1. Chỉ có duy nhất đức tin: Sự công bình chỉ duy nhất bởi đức tin và không có việc làm của con người. (Chỉ bởi một mình đức tin; Tiếng La-tinh Sola Fide)

 

  1. Chỉ có duy nhất Đấng Christ: Sự cứu rỗi thông qua một người và chỉ có duy nhất công tác thêm của Đức Chúa Giê-xu Christ. (Chỉ một mình Đức Chúa Giê-xu Christ mà thôi; Tiếng La-tinh Solus Christus)

 

  1. Chỉ có duy nhất vinh hiển của Đức Chúa Trời: Tất cả mọi việc đều tồn tại, lý do chính (cuối cùng/căn bản) là vì chỉ có duy nhất vinh hiển của Đức Chúa Trời mà thôi. (Chỉ một mình Chúa được tôn vinh; Tiếng La-tinh Soli Deo Gloria)

 

FIVE “ONLYS” OF THE REFORMATION

 

October 31 is Reformation Day, the day Martin Luther (1483-1546) nailed up his 95 theses. Thus, the five “solas” (“onlys”) are…

 

  1. Scripture Alone: Scripture alone as the authority for life and practice in the church. (Only Scripture; Latin: Sola Scriptura)

 

  1. Grace Alone: God’s sovereign grace alone as the reason for our salvation without any actual or potential human merit, effort, faith, or work. (Only Grace; Latin: Sola Gratia)

 

  1. Faith Alone: Justification by faith alone and no human works. (Only faith; Latin: Sola Fide)

 

  1. Christ Alone: Salvation through the Person and work of Jesus Christ alone. (Only Christ; Latin: Solus Christus)

 

  1. Glory of God Alone: All things exist ultimately for the glory of God alone. (Only God’s glory; Latin: Soli Deo Gloria)

GSiV: Luther, Calvin, Farel, Reformation (Tiếng Việt và Tiếng Anh)

Reformation History: Calvin và Farel–part 6

‘While Calvin was thus engaged, the Reformation advanced into the French cantons of Switzerland. Guillaume Farel (1489–1565), a red-headed, hot-tempered, strong-voiced, prophetic individual, established the Reformation in Geneva. Farel was born into a middle-class French family and educated in French universities. Soon after 1521 he accepted Luther’s idea of justification by faith. Protected by Bern, he helped spread Reformed ideas. In 1532 he began work in Geneva. In 1535 he won a dispute with those opposed to the Reformation, and the General Assembly of Citizens formally adopted the ideas of the Reformers in 1536. Farel realized that he needed someone with more organizing ability to help him establish the Reformation in Geneva. During his travels, Calvin stopped in Geneva one night in 1536. Farel went to him and urged him to help him. When Calvin demurred because he loved the life of a student and writer of theology, Farel told him that the curse of God would be on him if he did not stay. Stricken by fear, as Calvin later confessed, he decided to remain. He and Farel cooperated until they were exiled in 1538. Calvin became a teaching minister of Geneva in 1536.’

 

‘Đang khi Calvin dự phần như thế, Cuộc Cải Chánh đã tiến vào các tổng nói tiếng Pháp tại Thụy Sĩ. Guillaume [William] Farel (1489-1565), một người tóc hoe đỏ, nóng tính, giọng nói mạnh mẽ và mang tính tiên tri, đã vững lập Cuộc Cải Chánh tại Geneva. Farel sinh ra trong gia đình người Pháp thuộc tầng lớp trung lưu và được học tại các đại học ở Pháp. Chẳng bao lâu sau năm 1521, ông đã tiếp nhận ý kiến của Luther về sự xưng công bình bởi đức tin. Được Bern [thành phố ở Thụy Sĩ] bảo vệ, ông đã giúp truyền bá các ý tưởng Cải Cách. Năm 1532, ông bắt đầu hoạt động tại Geneva. Năm 1535, ông đã chiến thắng cuộc tranh luận với những người đang chống đối Cuộc Cải Chánh, và Đại Hội Đòng Công Dân đã chính thức đi theo các ý kiến của các nhà Cải Chánh vào năm 1536. Farel nhận thấy cần người có tài tổ chức để giúp ông vững lâp Cuộc Cải Chánh tại Geneva. Một lần trong những chuyến đi, Calvin dừng chân tại Geneva một đêm kia vào năm 1536. Farel đến gặp Calvin và nài nỉ Calvin giúp mình. Khi Calvin lưỡng lự vì yêu thích cuộc sống của sinh viên và viết lách về thần học, Farel bảo ông rằng lời rủa sả của Đức Chúa Trời sẽ giáng trên ông nếu ông không ở lại. Vì sợ, như sau này Calvin đã thú nhận, ông đã quyết định ở lại. Ông và Farel đã cộng tác với nhau cho đến khi họ bị trục xuất vào năm 1538. Calvin đã trở thành vị mục sư giáo sư của Geneva vào năm 1536.’

 

-Earle E. Cairns, Christianity through the Centuries, 1996, ed 3rd, p. 303–304 / Cơ Đốc Giáo Trải Các Thế Kỷ, 2010, tr. 343

GSiV: Luther, Calvin, Reformation

 

Reformation History: 5 Điều Duy Nhất–part 4

Năm Điều Duy Nhất Của Cuộc Cải Chánh

(Five Solas of the Reformation)

‘31 Tháng Mười năm 1517, Mác-tin Lu-tơ đã đóng ghim 95 luận điểm cải cách giáo hội của ông trên cánh cửa nhà thờ, lập cột mốc vô cùng quan trọng thúc đẩy sự bùng phát lên từ đó của dòng Tin lành, mà thực chất là đưa Hội thánh quay trở lại với cội nguồn đức tin và gìn giữ những chân lý đã được Đức Chúa Trời đóng ấn trong Kinh thánh….’

‘Duy chỉ Kinh thánh! Kinh thánh được chính Thánh Linh Chúa Trời cảm hứng soi dẫn những con người viết ra, duy nhất là chân lý với thẩm quyền tối cao để bày tỏ hoàn toàn….

‘Duy chỉ đức tin! Con người được nhận sự tha thứ của Chúa Trời chỉ duy nhất nhờ đức tin vào sự hy sinh chuộc tội của Cứu Chúa Jê-sus, chứ không thể nhờ các việc làm công đức….

‘Duy chỉ ân điển! Sự cứu rỗi đến chỉ nhờ duy nhất ân điển Đức Chúa Trời, là ơn thương xót, là món quà Chúa ban cho không….

‘Duy chỉ Đấng Christ! Đức Chúa Jê-sus là Con duy nhất của Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời trọn vẹn và cũng là con người trọn vẹn, Ngài là Đấng trung bảo duy nhất giữa Đức Chúa Trời và loài người, không hề có sự cứu rỗi trong đấng nào khác….

‘Vinh hiển duy thuộc Đức Chúa Trời! Mọi vinh hiển duy nhất chỉ thuộc về Đức Chúa Trời….’

-Trần Quốc Hùng

Xem Thêm

(GSiV: Luther, Calvin, Farel, Reformation)

 

Reformation History: Martin Luther’s Conversion (Spurgeon)–part 3

“The just shall live by faith” (Romans 1:17)

 

Spurgeon spoke the following about Luther:

‘No sooner did he believe this than he began to live in the sense of being active. A [priest], named Tetzel, was going about all over Germany selling the forgiveness of sins for so much ready cash. No matter what your offense, as soon as your money touched the bottom of the [collection] box your sins were gone. Luther heard of this, grew indignant, and exclaimed, “I will make a hole in his drum,” which assuredly he did, and in several other drums. The nailing up of his theses on the church door was a sure way of silencing the indulgence music. Luther proclaimed pardon of sin by faith in Christ without money and without price, and the Pope’s indulgences were soon objects of derision. Luther lived by his faith, and therefore he who otherwise might have been quiet, denounced error as furiously as a lion roars upon his prey. The faith that was in him filled him with intense life, and he plunged into war with the enemy. After a while they summoned him to Augsburg, and to Augsburg he went, though his friends advised him not to go. They summoned him, as a heretic, to answer for himself at the Diet [Imperial Council] of Worms, and everybody [told him to] stay away, for he would be sure to be burned [at the stake]; but he felt it necessary that the testimony should be borne, and so in a wagon he went from village to village and town to town, preaching as he went, the poor people coming out to shake hands with the man who was standing up for Christ and the gospel at the risk of his life. You remember how he stood before that august assembly [at Worms], and though he knew as far as human power went that his defense would cost him his life, for he would, probably, be [burned at the stake] like John Huss, yet he [acted like a] man for the Lord his God. That day in the German Diet [Court] Luther did a work for which ten thousand times ten thousand mothers’ children have blessed his name, and blessed yet more the name of the Lord his God.’

-C. H. Spurgeon, “A Luther Sermon at the Tabernacle.”

 

//

 

“Người công bình sống bởi đức tin” (Rô-ma 1:17)

 

Spurgeon đã nói về Luther như sau:

‘Ông tin vào điều nầy không bao lâu thì ông bắt đầu để sống trong cảm giác của bản chất tích cực. Vị [tu sĩ], tên là Tetzel, đã đi khắp Nước Đức rao bán sự tha thứ tội lổi cho những ai có ít tiền mặt sẳn sàng. Không cần biết bạn phạm tội gì, một khi tiền của bạn đụng dưới đáy thùng [đựng tiền] thì tội của bạn biến mất. Luther nghe về điều nầy, trở nên căm phẫn, và la lên, “Tôi sẽ làm lũng một lổ trong cái trống của hắn,” tất nhiên ông đã làm như vậy, và trong những cái trống khác nữa. Sự đóng đinh những bản án lên trên những cửa của nhà thờ là một cách làm im lặng sự ham mê âm nhạc. Luther tuyên bố sự tha tội là bởi đức tin trong Chúa Giê-sus Christ không có cần tiền và không có giá, và sự nuông chiều của Đức Giáo Hoàng sẽ sớm thành những đồ vật cho sự chế nhạo. Ông Luther sống bởi đức tin, và vì thế ông không còn im lặng, lên án những sự sai lầm như một con sư tử giận dữ đang gầm trên con mồi của mình. Đức tin ở trong ông làm đầy sức sống mãnh liệt trên ông, và ông lao mình vào chiến tranh với kẻ thù. Sau một thời gian họ triệu ông đến Augsburg, và ông đi đến Augsburg, mặc dù bạn bè đề nghị với ông rằng ông không nên đi. Họ triệu ông đến, như người theo dị giáo, để tự trả lời cho chính mình tại Hội Nghị [Hội Đồng Đế Quốc] thuộc Người Không Đáng Kể (Worms), và mọi người đều [kêu ông phải] tránh xa, bằng không ông chắc chắn sẽ bị thiêu [tại cột trói để thiêu sống]; nhưng ông cảm thấy có sự cần thiết rằng lời chứng phải được chịu đựng, cho nên bằng chiếc xe ngựa ông đi từ làng nầy đến làng kia và từ tỉnh nầy đến tỉnh kia, vừa đi vừa rao giảng, những người nghèo khó ra và bắt tay với người đàn ông tranh đấu vì Đấng Christ và tin lành bằng sự nguy hiểm của mạng sống mình. Bạn nhớ ông đứng trước hội nghị tháng tám như thế nào [tại Người Không Đáng Kể (Worms)], và dù ông biết về phần sức của loài người thì sự biện hộ của ông phải trả bằng mạng sống, ông sẳn sàng chịu, có thể, bị [thiêu sống tại cột trói] như ông John Huss, hơn nữa ông [đóng vai trò như] một người cho Chúa là Đức Chúa Trời. Ngày đó trong Hội Đồng của người Đức [Toà] ông Luther làm một việc thay cho mười ngàn lần mười ngàn những con của những người mẹ đã chúc phước tên của ông, và được phước nhiều hơn thế nữa danh của Chúa là Đức Chúa Trời của ông.’ link

 

(GSiV links)

Does Calling on Lord’s Name Equal Salvation?

How are people saved? What role does repentance play? “Easy Believe-ism” is a problem around the world. Here’s a helpful article:

 

‘One of the verses that’s routinely overused—and under-exegeted—in gospel ministry is Romans 10:13, “For whoever will call on the name of the Lord will be saved.”

 

‘That verse has been a go-to text for evangelists like Billy Graham. But excerpted out of its context, it’s a recipe for shallow faith and false assurance. And the rampant, easy abuse of Romans 10:13 and similar verses is the reason for the widespread easy-believism and false assurance that plagues the church today.

 

‘To understand Paul’s true intent in Romans 10:13, we need to consider the surrounding verses…. Paul’s point is clear—salvation is not a birth right, nor is it a momentary decision. True faith is active and ongoing.’

-Jeremiah Johnson, “Is Calling on the Lord’s Name All It Takes to Be Saved?”

 

Read the whole article here

audio

(GSiV links)

Free Will: Geisler and White

  • John 8:31–34 “So Jesus said to the Jews who had believed him, “If you abide in my word, you are truly my disciples, and you will know the truth, and the truth will set you free.” They answered him, “We are offspring of Abraham and have never been enslaved to anyone. How is it that you say, ‘You will become free’?” Jesus answered them, “Truly, truly, I say to you, everyone who practices sin is a slave to sin.” (ESV)
  • ‘Chúa Giê-xu bảo những người Do-thái đã tin Ngài rằng, “Nếu các ngươi trung thành với lời dạy của ta thì các ngươi sẽ là môn đệ thật của ta. Các ngươi sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải thoát các ngươi.” Họ đáp, “Chúng tôi là con cháu Áp-ra-ham, chưa hề làm tôi mọi ai. Tại sao thầy lại nói chúng tôi sẽ được giải thoát?” Chúa Giê-xu đáp, “Ta bảo thật, ai phạm tội là tôi mọi của tội lỗi.’ (BPT 2010)

 

‘The one who commits sin is the slave of sin. Slavery is servitude, not freedom. Christ’s words tell us that sin is a taskmaster, we the servants. We do not rule over it. It rules those who are under its power. Slavery is antithetical to “free will.” Man in sin is not free to do what is good.

 

‘It is utterly amazing, then, to read the words of Dr. Geisler who writes, [page 65] “We are born with a bent to sin, but we still have a choice whether we will be its slave.” How can this be when the Lord teaches that sin brings slavery? What kind of “choice” is left to the slave concerning his servitude?’

 

James White, The Potter’s Freedom, p.87

 

(Đoạn 42, GSiV: Ý chí tự do của con người, Xem chi tiết)

(Also see GSiV here)

Ba Ngôi Đức Chúa Trời (Trinity)—part 8

‘Từ ngữ “Ba ngôi” không thấy có trong Kinh Thánh. Đầu tiên từ này được Tertullian dùng vào cuối thế kỷ thứ 2, nhưng không có vị trí chính thức trong ngành thần học của Hội Thánh mãi đến thế kỷ thứ 4 và thứ 5. Có ba điều khẳng định là trung tâm của giáo lý lịch sử về Ba ngôi: 1. chỉ có một Đức Chúa Trời mà thôi; 2. Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, và Đức Thánh Linh đều hoàn toàn là Đức Chúa Trời đời đời; 3. Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, và Đức Thánh Linh đều có một thân vị riêng biệt. Không có nơi nào Kinh Thánh dạy rõ ràng về sự kết hợp của những điều khẳng định này. Tuy nhiên, có thể tuyên bố rằng giáo lý Ba Ngôi là một sự giải nghĩa thích hợp sâu sắc của bằng chứng Kinh Thánh về Đức Chúa Trời qua ánh sáng của chức vụ, sự chết và sự sống lại –sự tôn cao của Chúa Giê-xu—“sự kiện Chúa Cứu Thế”.’

-M. Turner & G. McFarlane

-New Bible Dictionary, I. H. Marshall, J. I. Packer, et.al. (Intervarsity) / Thánh Kinh Tân Từ Điển (UUC: 2009, tr. 113)

 (GSiV: Trinitarian Illustrations & Outline)

Man’s ‘Free’ Will: Always Wanting the Final Say

  • Jesus answered and said to them, “Do not grumble among yourselves. No one can come to Me unless the Father who sent Me draws him; and I will raise him up on nthe last day.” (Jn 6:43-44)
  • Nhưng Chúa Giê-xu đáp, “Các ngươi đừng xầm xì với nhau làm gì. Cha là Đấng đã sai ta đến. Không ai có thể đến với ta nếu Cha không dẫn họ đến; còn ta sẽ khiến người ấy sống lại trong ngày cuối cùng. (Gi. 6:43-44; BPT)

 

‘While modern evangelicals normally seek reasons for rejection of Christ in psychology, upbringing, background, or in the failure of the “presentation,” Jesus goes beyond the creaturely and touches upon the eternal reality. Again we find man’s inabilities put in the forefront in contrast with God’s ability. Why do these stand before the incarnate Lord in disbelief? Because they are not able, in and of themselves, to come to the very Bread of Life. “No one can come to Me” Christ says.

‘These are not words to be glossed over. Non-Reformed Protestants simply cannot explain Jesus’ meaning. The religions of men, Roman Catholicisim, and Arminianism, all share one thing in common: the deep desire to maintain the ability of man to control the work of God in salvation and always have the “final say.” The blunt assertion of Christ refutes this error [“No one can come to Me unless the Father who sent Me draws him”]. The fact is, outside of the divine action of drawing the elect to Christ none would come to Him. It is beyond the capacity of the fallen man.’

James White, The Potter’s Freedom, p.85

 

(Đoạn 42, GSiV: Ý chí tự do của con người, Xem chi tiết)

Ba Ngôi Đức Chúa Trời (Trinity: Delight)—part 7

Delight Yourself in the Trinity

 

‘But this is how we are built, so the same thing works for salvation. I naturally don’t desire God. I desire myself. I desire other things. But what the Spirit so kindly does is the Spirit opens my eyes to see the glory and beauty of God, and so wins my heart, such that — and here is what I want in all my preaching, and I make this very clear when I speak, for example, to students and in my church — I want people to see that the living God is more beautiful and more desirable than their sin. And that is the Spirit’s work through the Word. The Spirit opens our eyes that we might see Christ.’

 

Read or listen in English to the whole thing here

 

(GSiV: Trinitarian Illustrations & Outline)

‘Sự Lựa Chọn’ Là Gì?—Part 1

What is ‘election’?

‘Ý nghĩa của sự lựa chọn đối với người tin Chúa

‘Phao-lô tìm thấy trong sự nhận thức của tín hữu về sự chọn lựa của mình một ý nghĩa tôn giáo có ba điểm sau:

a. Điều này bày tỏ cho tín hữu thấy rằng sự cứu rỗi của mình, từ đầu đến cuối, đều thuộc về Đức Chúa Trời, một kết quả của ơn thương xót thần hựu đặc biệt. Sự cứu chuộc mà người tìm thấy chỉ trong Đấng Christ và nhận được chỉ bởi đức tin, không bắt nguồn từ một phẩm cách cá nhân nào, nhưng chỉ bởi ân điển – ân điển của sự chọn lựa. Mọi phước hạnh thuộc linh tuôn tràn trên người đều đến từ ý định lựa chọn của Đức Chúa Trời (Êph 1:3tt.). Do đó, nhận thức về sự lựa chọn của mình sẽ dạy người ấy làm vinh hiển Đức Chúa Trời, và chỉ một mình Đức Chúa Trời mà thôi (1Cô 1:31), và dâng cho Ngài sự ngợi khen mà Ngài đáng được nhận (Rô 11:36). Cuối cùng của sự chọn lựa đó là Đức Chúa Trời được ngợi khen (Êph 1:6, 12, 14), và ý tưởng về sự lựa chọn phải hướng tội nhân được chuộc đến sự ngợi khen và cảm tạ không thôi, như Phao-lô đã làm (Rô 11:33tt.; Êph 1:3tt.; 1Tê 11:3tt.; 2Tê 2:13tt.). Điều mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ về sự lựa chọn cho Phao-lô là một chủ đề, không phải là một lý luận, dành cho sự thờ phượng.’ -J. I. Packer

-New Bible Dictionary, I. H. Marshall, J. I. Packer, et.al. (Intervarsity) / Thánh Kinh Tân Từ Điển (UUC: 2009, tr. 1055)

(Tại GSiV: Xem Chi Tiết)

Ba Ngôi Đức Chúa Trời (Trinity: Confession)—part 6

Philadelphia Baptist Confession of Faith (1742)

Chapter 2: Of God and of the Holy Trinity

‘THE LORD OUR GOD is but one only living, and true God;1 whose subsistence is in and of Himself,2 infinite in being and perfections, whose essence cannot be comprehended by any but Himself;3 a most pure spirit,4 invisible, without body, parts or passions, who only hath immortality, dwelling in the light which no man can approach unto,5 who is immutable, immense,7 eternal,8 incomprehensible, almighty,9 every way infinite, most holy,10 most wise, most free, most absolute, working all things according to the counsel of His own immutable and most righteous will,11 for His own glory,12 most loving, gracious, merciful, long-suffering, abundant in goodness and truth, forgiving iniquity, transgression and sin, the rewarder of them that diligently seek Him,13 and withal most just, and terrible in His judgements,14 hating all sin,15 and will by no means clear the guilty.16

  • Footnotes: 1. 1Co 8:4, 6; Dt 6:4; 2. Jer 10:10; Isa 48:12; 3. Ex 3:14; 4. Jn 4:24; 5. 1Ti 1:17; Dt 4:15-16; 6. Mal 3:6; 7. 1Ki 8:27; Jer 23:23; 8. Ps 90:2; 9. Ge 17:1; 10. Isa 6:3; 11. Ps 115:3; Isa 46:10; 12. Pr 16:4; Ro 11:36; 13. Ex 34:6-7; Heb 11:6; 14. Ne 9:32-33; 15. Ps 5:5-6; 16. Ex 34:7; Na 1:2-3;

 

‘God, having all life,17 glory,18 goodness,19 blessedness, in and of Himself, is alone in, and unto Himself all-sufficient, not standing in need of any creature which He hath made, nor deriving any glory from them,20 but only manifesting His own glory in, by, unto, and upon them, He is the alone fountain of all being of whom, through whom, and to whom are all things,21 and He hath most sovereign dominion over all creatures, to do by them, for them, or upon them, whatsoever Himself pleaseth;22 in His sight all things are open and manifest,23 His knowledge is infinite, infallible, and independent upon the creature, so as nothing is to Him contingent or uncertain,24 He is most holy in all His counsels, in all His works,25 and in all His commands; to Him is due from angels and men, whatsoever worship,26 service, or obedience, as creatures they owe unto the Creator, and whatever He is further pleased to require of them.

  • Footnotes: 17. Jn 5:26; 18. Ps 148:13; 19. Ps 119:68; 20. Job 22:2-3; 21. Ro 11:34-36; 22. Da 4:25, 34-35; 23. Heb 4:13; 24. Eze 11:5; Ac 15:18; 25. Ps 145:17; 26. Rev 5:12-14;

 

‘In this divine and infinite Being there are three subsistences, the Father, the Word (or Son), and Holy Spirit,27 of one substance, power and eternity, each having the whole divine essence, yet the essence undivided;28 the Father is of none neither begotten nor proceeding, the Son is eternally begotten of the Father,29 the Holy Spirit proceeding from the Father and the Son,30 all infinite, without beginning, therefore but one God, who is not to be divided in nature and being, but distinguished by several peculiar, relative properties, and personal relations which doctrine of the Trinity is the foundation of all our communion with God, and comfortable dependence on Him.’

  • Footnotes: 27. 1Jn 5:7; Mt 28:19; 2Co 13:14; 28. Ex 3:14; Jn 14:11; 1Co 8:6; 29. Jn 1:14, 18. 30. Jn 15:26; Gal 4:6.

Link in English

 

Tuyên Xưng Philadelphia (1742)

Đoạn 2: Giáo Lý Về Đức Chúa Trời Và Đức Chúa Trời Ba Ngôi Hiệp Một

‘1. Đức Chúa Trời của chúng ta là [a] Đức Chúa Trời tự hữu hằng hữu là Đấng [b] duy nhất hằng sống và chân thật, là Đấng [c] mà thực thể Ngài là vô hạn và hoàn hảo, là Đấng mà bản thể Ngài không thể nào được bất cứ gì ngoài Ngài lĩnh hội hết được, [d] Ngài là một thực thể thần linh tối tinh anh, [e] bất khả thị, phi thân thể, phi thành phần và bất khả tác động, là Đấng duy nhất bất tử, Ngài ngự trong sự sáng bất khả tiếp cận, [f] là Đấng bất khả biến đổi, [g] là Đấng vô hạn, [h] là Đấng đời đời, là Đấng bất khả tận tri, [i] là Đấng toàn năng, là Đấng vô giới hạn trên mọi phương diện, [k] là Đấng tối thánh khiết, tối khôn ngoan, tối tự ý, tối tuyệt đối, [l] là Đấng khiến cho tất cả mọi sự hợp theo sự định mạng bởi ý chỉ tối công nghĩa và bất khả kháng của Ngài [m] cho sự vinh hiển của chính Ngài, là Đấng giàu yêu thương hơn hết, giàu nhân từ hơn hết, giàu thương xót hơn hết, giàu chịu đựng hơn hết, là Đấng tha thứ cho sự trái nghịch, sự vi phạm và tội lỗi, [n] là Đấng ban thưởng cho những ai hết lòng tìm kiếm Ngài, đồng thời [o] Ngài cũng là Đấng phán xét tối công bằng và đáng kinh khiếp nhất, [p] Ngài gớm ghiếc mọi tội lỗi và ngoài Ngài ra thì chẳng có bất gì có thể giải [q] tội đối với Ngài được.

  • Lời chú ở cuối trang: [a] Giê. 10:10; Ês. 48:12; [b] 1Cô. 8:4, 6; Phục. 6:4; [c] Xuất. 3:14; [d] Gi. 4:24; [e] 1Ti. 1:17; Phục. 4:15, 16; [f] Mal. 3:6; [g] 1Vua. 8:27; Giê. 23:23; [h] Thi. 90:2; [i] Sáng. 17:1; [k] Ês. 6:3; [1] Thi. 115:3; Ês. 46:10; [m] Châm. 16:4; Rô. 11:36; [n] Xuất. 34:6, 7; Hê. 11:6; [o] Nê. 9:32, 33; [p] Thi. 5:5, 6; [q] Xuất. 34:7; Na. 1:2, 3;

 

‘2. Đức Chúa Trời là Đấng tự sở hữu trọn vẹn [r] sự sống, [s] sự vinh hiển, [t] sự thiện hảo, sự phước hạnh [u] không hề cần bất cứ tạo vật nào của Ngài để làm nên sự vinh hiển Ngài hay bổ sung cho sự vinh hiển Ngài mà là sự vinh hiển Ngài được hiển thị trên các tạo vật Ngài và qua các tạo vật Ngài, Ngài là [x] nguồn duy nhất để từ đó và qua đó mọi sự hiện hữu và tồn tại, và Ngài nắm [y] quyền tể trị tối cao trên toàn cõi thọ tạo là quyền làm mọi sự hiệp theo ý chỉ Ngài qua giới thọ tạo ấy, cho giới thọ tạo ấy, và trên giới thọ tạo ấy; dưới [z] tầm nhìn Ngài mọi sự đều được phơi bày, [a] sự hiểu biết Ngài là vô hạn, bất bại và độc lập đối với giới thọ tạo; đối với Ngài chẳng có sự chi là ngẫu nhiên hay bất định; Ngài là Đấng chí thánh trong mọi ý chỉ Ngài, trong mọi công việc Ngài, trong mọi mệnh lệnh Ngài; [b] Ngài có đầy đủ quyền của Đấng Sáng Tạo đối với loài thọ tạo để đòi hỏi bất cứ [c] thiên sứ hay con người nào sự thờ phượng, sự hầu việc, sự vâng phục hay bất cứ sự gì khác.

  • Lời chú ở cuối trang: [r] 5:26; [s] Thi. 148:13; [t] Thi. 119:68; [u] Gióp 22:2, 3; [x] Rô. 11:34, 35, 36; [y] Đa. 4:25, 34, 35; [z] Hê. 4:13; [a] Êx. 11:5. Công. 15:18; [b] Thi. 145:17; [c] Khải. 5:12, 13, 14;

 

‘3. Trong Thực Thể Thiên Thượng Tự Hữu Và Vô Hạn này (Đức Chúa Trời) có sự thực hữu của [d] ba Thân Vị Thiên Thượng là Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con (hay “Ngôi Lời”), và Đức Thánh Linh đồng hữu cùng một bản thể, một quyền năng, một tính đời đời, mỗi Thân Vị đều tự hữu trọn vẹn bản chất thiên thượng [e] vốn không bao giờ phân ly, Đức Chúa Cha tự hữu cách vô khởi xuất, [f] đời đời Đức Chúa Con khởi xuất bởi Đức Chúa Cha, [g] Đức Thánh Linh khởi xuất từ Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con, cả ba Thân Vị đều vô thỉ vô chung trong duy nhất một Đức Chúa Trời bất khả phân ly về bản chất và về sự thực hữu nhưng lại được tách vạch nhau bởi các thuộc tính về quan hệ và các quan hệ tương tùy giữa các Thân Vị; chính từ các lẽ thật này mà giáo lý Kinh Thánh về Đức Chúa Trời Ba Ngôi Hiệp Một (tức Tam Vị Nhất Thể) là giáo lý nền tảng cho mối giao thông giữa chúng ta với Đức Chúa Trời, và cho sự nương cậy bình an của chúng ta đối với Ngài.’

  • Lời chú ở cuối trang: [d] 5:7; Ma. 28:19; 2Cô. 13:14; [e] Xuất. 3:14; Gi. 14:11; 1Cô. 8:6; [f] Gi. 1:14, 18; [g] Gi. 15:26; Gal. 4:6.

Link bằng Tiếng Việt