God is for us: J Bridges
In his book Respectable Sins, Mr. Bridges…
‘The assurance that God no longer counts my sin against me does two things. First it assures me that God is for me, not against me (see Romans 8:31). I am not alone in this battle with sin. God is not watching me from His heavenly throne saying, “When are you going to get your act together? When are you going to deal with that sin?” Rather, He is, as it were, coming alongside me, saying, “We are going to work on that sin, but meanwhile I want you to know that I no longer count it against you.” God is no longer my Judge; He is now my heavenly Father, who loves me with a self-generated, infinite love, even in the face of my sin.
‘That assurance greatly encourages me and motivates me to deal with the sin. Further, the assurance that God no longer counts my sin against me, and that in my struggles with sin, He is for me, produces within me a strong sense of gratitude for what He has done and is presently doing for me through Christ.’
-Jerry Bridges
(GSiV: Jerry Bridges; Humility; Sanctification)
Sanctification (Sự nên thánh): Erickson–part 2
| The Nature of Sanctification: Sanctification is the continuing work of God in the life of believers, making them actually holy. By “holy” here is meant “bearing an actual likeness to God.” Sanctification is a process by which one’s moral condition is brought into conformity with one’s legal status before God. It is a continuation of what was begun in regeneration, when a newness of life was conferred upon and instilled within the believer. In particular, sanctification is the Holy Spirit’s applying to the life of the believer the work done by Jesus Christ. Millard J. Erickson, Christian Theology, (Grand Rapids, MI: Baker Academic, 3rd ed., 2013, Logos), 897. | Bản Chất của Sự Nên Thánh: ‘Sự nên thánh là công việc liên tục của Đức Chúa Trời trong đời sống của tín hữu và làm cho người đó thật sự thánh khiết. Ở đây “thánh khiết” được hiểu là “thật sự giống Đức Chúa Trời.” Sự nên thánh là một quá trình mà trong đó tình trạng đạo đức được làm cho phù hợp với tình trạng pháp lý của người đó trước mặt Đức Chúa Trời. Đó là sự tiếp nối cho những gì đã được bắt đầu bằng sự tái sanh, là lúc một đời sống mới được trao cho và đổ vào trong lòng tín hữu. Nói cụ thể hơn, sự nên thánh là việc Đức Thánh Linh áp dụng công tác được Chúa Giê-xu Christ làm trọn vào đời sống của tín hữu.’ Millard J. Erickson, Thần Học Cơ Đốc Giáo(Christian Theology, 3rd ed., 2013), tr. 320. |
(GSiV: Ân điển, chứ không phải những quy tắc / Grace not rules;
Gospel Grace Versus Dead Religion–part 6; Sanctification (Sự nên thánh): Erickson–part 1)
Gospel Grace Versus Dead Religion–part 7
Ân Điển của Phúc Âm và Tôn Giáo Chết:
Giúp các Hội Thánh tại Việt Nam Thực Hành Ân Điền Mà Không Từ Bỏ Sự Thánh Khiết
| Ân Điển của Phúc Âm | Tôn Giáo Chết | |
| Tập trung vào | Chúa | Bản thân |
| Thái độ | Biết ơn vì Chúa đã hoàn thành công việc cứu chuộc tội lỗi để mình có thể quay trở lại với Đức Chúa Trời | Tự mãn vì bản thân công chính hơn người khác hoặc ganh ghét vì người khác có vẻ công chính hơn mình |
| Động lực | Tấm lòng thay đổi | Thái độ bên ngoài thay đổi |
| Thước đo thành công | Lớn lên trong đức tin, trái Thánh Linh, và tình yêu chân thật cho người khác, cũng như sự thành tín trong việc tuân giữ Lời của Chúa | Thành tích hoạt động cá nhân, chức vụ và sự tôn trọng từ hội thánh |
| Phần thưởng | Trái đời đời và ảnh hưởng vĩnh hằng tới nước Đức Chúa Trời | Dùng trái Thánh Linh và kết quả tạm bợ như bằng chứng về ân điển của Chúa |
| Sẽ tạo ra văn hoá hội thánh | Quan tâm nhau, cùng vượt qua các nan đề, tập trung vào thái độ cũng như hành động, luôn luôn dùng Kinh Thánh làm nền tảng cho đúng hay sai, chia sẻ Phúc Âm cho người ngoại và đào tạo môn đệ | Phán xét nhau một cách sai trái, ngồi lê đôi mách, chỉ tập trung vào thành tích bên ngoài, thái độ tự cho mình là công chính, chỉ nhìn vào các truyền thống hoặc sựquan tâm của cá nhân để đặt ra tiêu chuẩn đúng sai, thoả mãn với các hoạt động của hội thánh |
-CCRA
Read here (in English or Việt)
(GSiV: ; Gospel Grace Versus Dead Religion; Ân điển, chứ không phải những quy tắc / Grace not rules)
Gospel-Driven Sanctification, J. Bridges–Part 4
KHÔNG CÓ “ĐỨC TIN DỄ DÃI” (No “Easy Believism”)
‘Thế nhưng vịn vào ý tưởng rằng Đức Chúa Trời chấp nhận chúng ta hoàn toàn dựa trên những điều Đấng Christ đã làm mà không phụ thuộc vào sự thực thi luật lệ của chúng ta chẳng phải là một thể loại “đức tin dễ dãi” sao? Trong hình thức cơ bản nhất, đây là khái niệm mà “Từ khi tôi cầu xin Đấng Christ làm Cứu Chúa của tôi, thì tôi đang trên đường đến thiên đường bất kể tôi sống ra sao. Cho dù tôi tiếp tục trong lối sống tội lỗi của mình thì cũng không thành vấn đế. Dù thế nào đi nữa, Đức Chúa Trời yêu thương và sẽ chấp nhận tôi.’
-Jerry Bridges
Đọc thêm here.
(GSiV: Resources)
Predestination: Struggling with it?
Uncertainty that Undermines Assurance of Salvation?
‘The doctrine of predestination teaches that everyone who is saved was chosen by God before the foundation of the world (Eph. 1:4; 2 Thess. 2:13). People might conclude that no one can know for sure whether he is saved and will go to heaven. They might reason as follows: Only God’s chosen ones will be saved. God’s decree of election is hidden in his secret will or eternal plan. Therefore, it is impossible to know if you are saved, unless you receive a special sign from God.’
Read the whole thing here
(GSiV: Resources–Perseverance of the saints (Eternal Security); Sovereignty verses; Election; Atonement; Piper; Eternal security; Salvation; How do we stop loving the darkness?; Phúc Âm cho Cơ Đốc nhân; Sự Lựa Chọn Là Gì?—Part 1)
Trở về từ Xứ Xa, Ông Yuan–part 9
Chương 7
Những Bước Chập Chững
Angela: Ngày 29 Tháng 6, 1993
‘Chuyến quay về Chicago rất khác với hành trình tới Louisville sáu tuần trước đây. Có vẻ như tôi đã đi xa cả một đời người. Người phụ nữ từng lên tàu rời khỏi Chicago không phải là người phụ nữ đang quay về. Thật lạ lùng chỉ một thời gian ngắn như thế mà biết bao đổi thay lại có thể diễn ra.
‘Sau khi rời khỏi hội nghị Xuất Hành, chúng tôi thả Christopher xuống Louisville rồi lên đường về nhà. Chúng tôi chẳng nói gì nhiều suốt chuyến đi bảy tiếng tới Chicago. Tôi tự hỏi không biết chồng tôi và Steven nghĩ gì — nhất là từ lúc tôi xa nhà sáu tuần. Trước đó đã có lần tôi xa nhà, nhưng không lâu cỡ đó, và chưa bao giờ có sự thay đổi nghiêm trọng như vậy xảy ra trong cuộc đời tôi.’
-Christopher Yuan and Angela Yuan, Out of a Far Country: A Gay Son’s Journey to God. A Broken Mother’s Search for Hope (2011) / Trở về từ Xứ Xa: Hành trình của người con đồng tính quay về với Đức Chúa Trời và Hành trình của người mẹ đau khổ tìm thấy hy vọng (2022).
Xin mua ở đây
(GSiV: Yuan; Phúc Âm Là Gì?; repentance; Gospel Grace Versus Dead Religion–part 6; Rosaria Butterfield’s book)
Resources–Perseverance of the saints (Eternal Security)
Eternal Security: God’s keeping power
Vietnamese Christians and assurance of salvation? (Heidelberg)
Năm Luận Điểm: Sự Kiên Trì Của Các Thánh Đồ–part 15
Năm Luận Điểm: Sự Kiên Trì Của Các Thánh Đồ–part 9
Năm Luận Điểm: Sự Kiên Trì Của Các Thánh Đồ–part 8
Năm Luận Điểm: Sự Kiên Trì Của Các Thánh Đồ–part 7
Năm Luận Điểm: Sự Kiên Trì Của Các Thánh Đồ–part 6
Năm Luận Điểm: Sự Kiên Trì Của Các Thánh Đồ–part 5
Năm Luận Điểm: Sự Kiên Trì Của Các Thánh Đồ–part 4
Năm Luận Điểm: Ông John Piper–part 3
Sự Kiên Trì của các Thánh Đồ (Five Points: Ông John Piper)–part 2
Sứ điệp: Sự An Ninh Đời Đời Của Người…
Philadelphia Baptist Confession of Faith–part 21
Sự bảo đảm về sự sống đời đời?
(GSiV: Election; Atonement; Piper; Eternal security; Salvation; TULIP)
Sự bảo đảm về sự sống đời đời?
‘Ê-phê-sô 4:30 nói với chúng ta con cái Chúa là những người “được đóng ấn cho đến ngày Cứu chuộc.” Nếu con cái Chúa không có sự an ninh đời đời thì dấu ấn không thật sự dành cho đến ngày Cứu chuộc, nhưng chỉ dành cho ngày tội lỗi, bội đạo hay vô tín. Giăng 3:15-16 nói với chúng ta bất cứ ai tin Chúa Giê Xu Christ đều được “Sự sống đời đời”. Nếu một người được hứa cho sự sống đời đời nhưng sau đó bị lấy mất. Trước hết nó sẽ không còn “Sự sống đời đời”. Nếu sự an ninh đời đời không có thật thì lời hứa về sự sống đời đời trong Kinh Thánh là một sự sai lầm.’
-GQ
(GSiV: Election; Atonement; Piper; Eternal security; Salvation; TULIP; Sứ điệp: Sự An Ninh Đời Đời Của Người…; Philadelphia Baptist Confession of Faith–part 21)
Sứ điệp: Sự An Ninh Đời Đời Của Người…
- #144: Sự An Ninh Đời Đời Của Người Ở Trong Chúa Cứu Thế Giê-xu – (Bài 16) Không Còn Đoán Phạt (Phần 1)
-ĐNS
(GSiV: Election; Atonement; Piper; Eternal security; Salvation; TULIP; Philadelphia Baptist Confession of Faith–part 21)
Philadelphia Baptist Confession of Faith–part 21
Chương thứ mười bảy (chapter 17):
“Sự Kiên Bảo Đức Tin Cho Các Thánh Đồ”
1. Những người đã được Đức Chúa Trời kêu gọi, tiếp nhận, làm cho nên thánh bởi Thánh Linh Ngài, cũng đã được Ngài ban cho đức tin; họ không thể nào bị mất sạch ân điển của Ngài, mà [a] nhất định sẽ giữ được đức tin cho đến cuối cùng và sẽ vĩnh viễn được cứu; họ sẽ cứ được ở trong các sự ban cho và kêu gọi không bao giờ thay đổi của Đức Chúa Trời (để từ đó Ngài cứ tiếp tục trưởng dưỡng cho họ đức tin, sự ăn năn, tình yêu thương, lòng vui mừng, sự trông cậy cùng với mọi ân điển từ Đức Thánh Linh để được ở trong sự sống đời đời của Đức Chúa Trời); dầu rằng họ sẽ cứ còn phải đối diện với nhiều giông bão trong đời sống đức tin nhưng nhất định là họ sẽ không bao giờ bị dứt khỏi vầng đá đức tin của họ là Đức Chúa Jêsus Christ bất chấp mọi cám dỗ của Satan để trở thành vô tín; dầu rằng lắm khi họ mất sự nhạy bén đối với sự sáng và tình yêu thương của Đức Chúa Trời, dầu rằng lắm khi [b] họ thấy sự sáng và tình yêu thương của Đức Chúa Trời cách mờ nhạt nhưng thật ra sự sáng và tình yêu thương của Ngài đối với họ vẫn cứ y nguyên và [c] nhất định quyền năng của Đức Chúa Trời sẽ cứ gìn giữ họ vĩnh viễn trong sự cứu rỗi của Ngài; họ sẽ được vui hưởng phước hạnh đã được Ngài mua chuộc, được gìn giữ trong tay Ngài, được chép tên trong Sách Sự Sống của Ngài cho đến đời đời.
[a] Gi. 10:28, 29; Php. 1:6; 2Ti. 2:19; 1Gi. 2:19
[b] Thi. 89:31, 32; 1Cô. 11:32
[c] Mal. 3:6
2. Sự kiên bảo đức tin này cho các thánh đồ không phụ thuộc vào ý chí tự do của họ mà phụ thuộc vào tính bất khả biến động của [d] sự định mạng của Đức Chúa Trời về những kẻ được chọn trong Nguyên Chỉ của Ngài là sự định mạng khởi xuất từ tình yêu bất biến của Đức Chúa Cha, thể theo công nghiệp cứu rỗi, cầu thay, và [e] hiệp nhất của Đức Chúa Jêsus Christ, thể theo [f] sự quyết chí đời đời của Đức Chúa Trời, thể theo Đức Thánh Linh ở cùng trong thân thể và đời sống của họ, thể theo [g] hột giống của Đức Chúa Trời đã được gieo trong họ, và thể theo bản chất của [h] giao ước ân điển của Đức Chúa Trời; tất cả những sự ấy đem lại sự bất bại và sự xác tín về sự kiên bảo đức tin cho các thánh đồ.
[d] Rô. 8:30; 9:11, 16
[e] Rô. 5:9, 10; Gi. 14:19
[f] Hê. 6:17, 18
[g] 1Gi. 3:9
[h] Giê. 32:40
3. Dầu rằng có những lúc các thánh đồ bị sa vào chước cám dỗ của Satan, sự kiêu ngạo của đời, sự mê tham của xác thịt còn sót lại trong đời sống họ, hoặc vì họ không chịu vận dụng các sự dự ứng của Đức Chúa Trời cho sự kiên bảo đức tin cho họ khiến họ có thể phạm [i] những tội lỗi đáng buồn; sự thật là hễ khi nào họ phạm tội thì họ mắc phải [k] sự bất bình của Đức Chúa Trời, sự bất hỉ của Đức Thánh Linh của Ngài, và khiến cho [l] sự dạy dỗ và ân điển của Đức Chúa Trời trở nên thiếu sức mạnh đối với họ thì lòng họ trở nên chai cứng, lương tâm họ trở nên méo mó, [m] họ làm tổn thương người khác và trở thành sự chướng ngại cho người khác nên chi [n] họ phải chịu sự sửa phạt có tính chất tình huống của Đức Chúa Trời; thế nhưng họ sẽ được làm mới lại về [o] sự ăn năn và vẫn được kiên bảo về đức tin trong Đức Chúa Jêsus Christ cho đến cuối cùng.
[i] Ma. 26:70, 72, 74
[k] Ês. 64:5, 9; Êph. 4:30
[l] Thi. 51:10,12
[m] Thi. 32:3,4
[n] 2Sa. 12:14
[o] Lu. 22:32, 61, 62
–Tuyên Xưng Philadelphia (1742)
(GSiV: A Few Confessions of Faith in Vietnamese; Gospel Grace Versus Dead Religion–part 6; Phúc Âm cho Cơ Đốc nhân;
Năm Luận Điểm: Sự Kiên Trì Của Các Thánh Đồ–part 15; Piper; Eternal security; Salvation)
Năm Luận Điểm: Sự Kiên Trì Của Các Thánh Đồ–part 15
‘Ý của phần này là điều nhấn mạnh bên trên về sự cần thiết của đức tin kiên trì và sự vâng phục không có nghĩa Chúa đang chờ đợi quan sát sự kiên trì và vâng phục của chúng ta rồi mới tuyên bố chúng ta hoàn toàn công bình trong sự liên hiệp với Đấng Christ. Rô-ma 5:1 nói rằng chúng ta “đã được xưng công bình bởi đức tin.” Đó là một hành động đã hoàn tất. Lần đầu chúng ta tin Chúa Jê-sus thì chúng ta đã được hiệp nhất với Đấng Christ. Trong sự liên hiệp với Ngài, sự công bình của Ngài được kể là sự công bình của chúng ta ngay lúc đó. Phao-lô nói ông nhắm mục tiêu để “được ở trong Ngài, được sự công bình, không phải công bình của tôi bởi luật pháp mà đến, bèn là bởi tin đến Đấng Christ mà được, tức là công bình đến bởi Đức Chúa Trời và đã lập lên trên đức tin” (Phi-líp 3:9).
‘Cơ sở chấp nhận của Đức Chúa Trời là chỉ nhờ Đấng Christ mà thôi—huyết và sự công bình của Ngài.’
-John Piper, Năm Luận Điểm: Hướng Đến Một Trải Nghiệm Sâu Nhiệm Hơn về Ân Điển của Đức Chúa Trời, Việt 2020, (Five Points, 2013; page 70), tr. 77.
(GSiV: Election; Atonement; Piper; Eternal security; Salvation; TULIP)
Some History on the “U” in TULIP
‘And of course, the issue of predestination–unconditional election–was the key controversy. The other elements kind of flowed from that, and so it made sense for the Synod to begin there. The attraction of TULIP, I think, is that there is a kind of logic to the order of TULIP, and I do believe if you start with total depravity, and you get people to really understand total depravity, then the rest of Calvinism does flow logically.
Now, we don’t believe it because it’s logical; we believe it because it’s biblical, and we can show biblical texts to support each of these points.’
-W. Robert Godfrey (Ligonier)
Read (or listen to) the whole thing here
(GSiV: A Mindset All Reformed Folks Need; ‘Giáo Luật của Dordt (Dort)’ Là Gì?–part 18; TULIP: Possible translations in Vietnamese; Election; Atonement; Piper; Eternal security; Salvation; Evangelism and Calvinism; TULIP; A great brief summary of Calvinism (in English); The Joys of Definite Atonement ;









