QUYỀN NĂNG CAO CẢ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI Ở VIỆT NAM (Ê-phê 1:4-5)

Reformation History: Five Onlys–part 10

“CHỈ DUY NHẤT” NĂM CUỘC CẢI CHÁNH

 

Ngày cải chánh là ngày 31 tháng 10, là ngày mà Martin Luther (1483-1546) đóng đinh lên 95 câu gốc của ông ấy. Như vậy, “solas” (“chỉ duy nhất”) năm là…

 

  1. Chỉ có duy nhất Kinh Thánh: Chỉ có duy nhất Kinh Thánh là có quyền năng cho cuộc sống và thực hành trong Hội Thánh. (Chỉ có một mình Kinh Thánh; Tiếng La-tinh: Sola Scriptura)

 

  1. Chỉ có duy nhất ân điển: Chỉ có duy nhất ân điển cao cả của Đức Chúa Trời là lý do cho sự cứu rỗi của chúng ta mà thật sự không cần bất cứ tiềm năng hay là đạo đức nào của con người, sự cố gắng, đức tin, hay là việc làm. (Chỉ có một mình ân điển; Tiếng La-tinh Sola Gratia)

 

  1. Chỉ có duy nhất đức tin: Sự công bình chỉ duy nhất bởi đức tin và không có việc làm của con người. (Chỉ bởi một mình đức tin; Tiếng La-tinh Sola Fide)

 

  1. Chỉ có duy nhất Đấng Christ: Sự cứu rỗi thông qua một người và chỉ có duy nhất công tác thêm của Đức Chúa Giê-xu Christ. (Chỉ một mình Đức Chúa Giê-xu Christ mà thôi; Tiếng La-tinh Solus Christus)

 

  1. Chỉ có duy nhất vinh hiển của Đức Chúa Trời: Tất cả mọi việc đều tồn tại, lý do chính (cuối cùng/căn bản) là vì chỉ có duy nhất vinh hiển của Đức Chúa Trời mà thôi. (Chỉ một mình Chúa được tôn vinh; Tiếng La-tinh Soli Deo Gloria)

 

FIVE “ONLYS” OF THE REFORMATION

 

October 31 is Reformation Day, the day Martin Luther (1483-1546) nailed up his 95 theses. Thus, the five “solas” (“onlys”) are…

 

  1. Scripture Alone: Scripture alone as the authority for life and practice in the church. (Only Scripture; Latin: Sola Scriptura)

 

  1. Grace Alone: God’s sovereign grace alone as the reason for our salvation without any actual or potential human merit, effort, faith, or work. (Only Grace; Latin: Sola Gratia)

 

  1. Faith Alone: Justification by faith alone and no human works. (Only faith; Latin: Sola Fide)

 

  1. Christ Alone: Salvation through the Person and work of Jesus Christ alone. (Only Christ; Latin: Solus Christus)

 

  1. Glory of God Alone: All things exist ultimately for the glory of God alone. (Only God’s glory; Latin: Soli Deo Gloria)

GSiV: Luther, Calvin, Farel, Reformation (Tiếng Việt và Tiếng Anh)

Reformation History: John Calvin là ai?–part 9

Who is John Calvin?

‘John Calvin là nhà thần học hàng đầu của Phong Trào Cải Cách Giáo Hội (Reformation Movement) ông đã có những đóng góp to lớn cho Hệ Thống Thần Học Cải Cách (Reformed theology) hay cũng gọi là Chủ Thuyết Calvin (Calvinism). Chính ông đã biến Geneva thành trung tâm điểm phổ biến Thần Học Cải Cách  (Reformed Theology), ông đã viết nhiều tác phẫm và chính điều nầy đã khiến ông trở nên nhân vật lãnh đạo lổi lạc của phong trào cải cách giáo hội vào thế kỷ thứ 16. Một trong những tác phẩm nổi tiếng đầu tiên của Ông là quyển “ Thể Chế Cơ-Đốc Giáo (Institutes of the Christian Religion)  xuất bản đầu tiên bằng tiếng Latin năm ông 26 tuổi 1536,  tiếng Pháp năm 1541,  tái xuất bản bằng tiếng Latin năm 1559,  và tiếng Pháp năm 1560.’

-Mục Sư Nguyễn Xuân Bảo “Nhà-Thần-Học Sáng Lập Giáo Hội Trưởng-Lão & Cải-Cách” (Chưa in)

(GSiV: Luther, Calvin, Farel, Reformation)

Reformation History: John Calvin là ai?–part 8

Who is John Calvin?

‘Từ khi còn trẻ tuổi John Calvin là một học sinh xuất sắc và rất yêu mến Chúa; năm 1523, thân phụ Calvin là một luật-sư, gởi Calvin đến Đại-Học Paris, khởi sự học tiếng Latin và thần học, nhưng sau đó ông thay đổi ý kiến và khuyên con trai đi học luật. Sau khi tốt nghiệp Cử nhân luật khoa, Calvin tiếp tục theo học tại Đại Học Orlean và Đại Học Bourges. Năm 1532 ông tốt nghiệp Tiến-Sĩ Luật tại Orlean, nhưng ông không hành nghề luật sư, Calvin dọn về Paris, không ai biết được Calvin bắt đầu theo Phong Trào cải cách (Reformation Movement) từ lúc nào, nhưng theo sách  Giải-Kinh Thi-Thiên (Commentary on Psalms) John Calvin viết lời tựa “ Đức Chúa Trời đã bắt phục tôi và lời Ngài đã dạy tôi, sau khi biết được chân lý, lòng tôi nóng cháy  mong ước được tấn tới trong niềm tin cải cách.’

-Mục Sư Nguyễn Xuân Bảo “Nhà-Thần-Học Sáng Lập Giáo Hội Trưởng-Lão & Cải-Cách” (Chưa in)

 

(GSiV: Luther, Calvin, Farel, Reformation)

Reformation History: Teach Your Kids about it–part 5

Below is a good article for coaching your kids with church history:

 

‘1. I want them to know about God’s faithfulness to his church.

We are not the first to preach the gospel and certainly not the first to follow Christ….

‘2. I want them to know reformation must continue.

I want my kids to know the reality of semper reformanda—always reforming according to Scripture….

‘3. I want them to know defending the Bible is dangerous, but worth the risk.

The reformers and their theological heirs, the oft-lampooned Puritans, were well acquainted with the cost of discipleship….

‘4. I want them to know God does extraordinary things through ordinary people.

Luther was a monk, Calvin a pastor, Bunyan a pot-fixer, and Carey a shoemaker….

‘5. I want them to know the gospel is everything.’

 

Read more

 

(GSiV: Luther, Calvin, Farel, Reformation)

Reformation History: 5 Điều Duy Nhất–part 4

Năm Điều Duy Nhất Của Cuộc Cải Chánh

(Five Solas of the Reformation)

‘31 Tháng Mười năm 1517, Mác-tin Lu-tơ đã đóng ghim 95 luận điểm cải cách giáo hội của ông trên cánh cửa nhà thờ, lập cột mốc vô cùng quan trọng thúc đẩy sự bùng phát lên từ đó của dòng Tin lành, mà thực chất là đưa Hội thánh quay trở lại với cội nguồn đức tin và gìn giữ những chân lý đã được Đức Chúa Trời đóng ấn trong Kinh thánh….’

‘Duy chỉ Kinh thánh! Kinh thánh được chính Thánh Linh Chúa Trời cảm hứng soi dẫn những con người viết ra, duy nhất là chân lý với thẩm quyền tối cao để bày tỏ hoàn toàn….

‘Duy chỉ đức tin! Con người được nhận sự tha thứ của Chúa Trời chỉ duy nhất nhờ đức tin vào sự hy sinh chuộc tội của Cứu Chúa Jê-sus, chứ không thể nhờ các việc làm công đức….

‘Duy chỉ ân điển! Sự cứu rỗi đến chỉ nhờ duy nhất ân điển Đức Chúa Trời, là ơn thương xót, là món quà Chúa ban cho không….

‘Duy chỉ Đấng Christ! Đức Chúa Jê-sus là Con duy nhất của Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời trọn vẹn và cũng là con người trọn vẹn, Ngài là Đấng trung bảo duy nhất giữa Đức Chúa Trời và loài người, không hề có sự cứu rỗi trong đấng nào khác….

‘Vinh hiển duy thuộc Đức Chúa Trời! Mọi vinh hiển duy nhất chỉ thuộc về Đức Chúa Trời….’

-Trần Quốc Hùng

Xem Thêm

(GSiV: Luther, Calvin, Farel, Reformation)

 

Ba Ngôi Đức Chúa Trời (Trinity)—part 8

‘Từ ngữ “Ba ngôi” không thấy có trong Kinh Thánh. Đầu tiên từ này được Tertullian dùng vào cuối thế kỷ thứ 2, nhưng không có vị trí chính thức trong ngành thần học của Hội Thánh mãi đến thế kỷ thứ 4 và thứ 5. Có ba điều khẳng định là trung tâm của giáo lý lịch sử về Ba ngôi: 1. chỉ có một Đức Chúa Trời mà thôi; 2. Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, và Đức Thánh Linh đều hoàn toàn là Đức Chúa Trời đời đời; 3. Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, và Đức Thánh Linh đều có một thân vị riêng biệt. Không có nơi nào Kinh Thánh dạy rõ ràng về sự kết hợp của những điều khẳng định này. Tuy nhiên, có thể tuyên bố rằng giáo lý Ba Ngôi là một sự giải nghĩa thích hợp sâu sắc của bằng chứng Kinh Thánh về Đức Chúa Trời qua ánh sáng của chức vụ, sự chết và sự sống lại –sự tôn cao của Chúa Giê-xu—“sự kiện Chúa Cứu Thế”.’

-M. Turner & G. McFarlane

-New Bible Dictionary, I. H. Marshall, J. I. Packer, et.al. (Intervarsity) / Thánh Kinh Tân Từ Điển (UUC: 2009, tr. 113)

 (GSiV: Trinitarian Illustrations & Outline)

Ba Ngôi Đức Chúa Trời (Trinity: Delight)—part 7

Delight Yourself in the Trinity

 

‘But this is how we are built, so the same thing works for salvation. I naturally don’t desire God. I desire myself. I desire other things. But what the Spirit so kindly does is the Spirit opens my eyes to see the glory and beauty of God, and so wins my heart, such that — and here is what I want in all my preaching, and I make this very clear when I speak, for example, to students and in my church — I want people to see that the living God is more beautiful and more desirable than their sin. And that is the Spirit’s work through the Word. The Spirit opens our eyes that we might see Christ.’

 

Read or listen in English to the whole thing here

 

(GSiV: Trinitarian Illustrations & Outline)

Ba Ngôi Đức Chúa Trời (Trinity: Confession)—part 6

Philadelphia Baptist Confession of Faith (1742)

Chapter 2: Of God and of the Holy Trinity

‘THE LORD OUR GOD is but one only living, and true God;1 whose subsistence is in and of Himself,2 infinite in being and perfections, whose essence cannot be comprehended by any but Himself;3 a most pure spirit,4 invisible, without body, parts or passions, who only hath immortality, dwelling in the light which no man can approach unto,5 who is immutable, immense,7 eternal,8 incomprehensible, almighty,9 every way infinite, most holy,10 most wise, most free, most absolute, working all things according to the counsel of His own immutable and most righteous will,11 for His own glory,12 most loving, gracious, merciful, long-suffering, abundant in goodness and truth, forgiving iniquity, transgression and sin, the rewarder of them that diligently seek Him,13 and withal most just, and terrible in His judgements,14 hating all sin,15 and will by no means clear the guilty.16

  • Footnotes: 1. 1Co 8:4, 6; Dt 6:4; 2. Jer 10:10; Isa 48:12; 3. Ex 3:14; 4. Jn 4:24; 5. 1Ti 1:17; Dt 4:15-16; 6. Mal 3:6; 7. 1Ki 8:27; Jer 23:23; 8. Ps 90:2; 9. Ge 17:1; 10. Isa 6:3; 11. Ps 115:3; Isa 46:10; 12. Pr 16:4; Ro 11:36; 13. Ex 34:6-7; Heb 11:6; 14. Ne 9:32-33; 15. Ps 5:5-6; 16. Ex 34:7; Na 1:2-3;

 

‘God, having all life,17 glory,18 goodness,19 blessedness, in and of Himself, is alone in, and unto Himself all-sufficient, not standing in need of any creature which He hath made, nor deriving any glory from them,20 but only manifesting His own glory in, by, unto, and upon them, He is the alone fountain of all being of whom, through whom, and to whom are all things,21 and He hath most sovereign dominion over all creatures, to do by them, for them, or upon them, whatsoever Himself pleaseth;22 in His sight all things are open and manifest,23 His knowledge is infinite, infallible, and independent upon the creature, so as nothing is to Him contingent or uncertain,24 He is most holy in all His counsels, in all His works,25 and in all His commands; to Him is due from angels and men, whatsoever worship,26 service, or obedience, as creatures they owe unto the Creator, and whatever He is further pleased to require of them.

  • Footnotes: 17. Jn 5:26; 18. Ps 148:13; 19. Ps 119:68; 20. Job 22:2-3; 21. Ro 11:34-36; 22. Da 4:25, 34-35; 23. Heb 4:13; 24. Eze 11:5; Ac 15:18; 25. Ps 145:17; 26. Rev 5:12-14;

 

‘In this divine and infinite Being there are three subsistences, the Father, the Word (or Son), and Holy Spirit,27 of one substance, power and eternity, each having the whole divine essence, yet the essence undivided;28 the Father is of none neither begotten nor proceeding, the Son is eternally begotten of the Father,29 the Holy Spirit proceeding from the Father and the Son,30 all infinite, without beginning, therefore but one God, who is not to be divided in nature and being, but distinguished by several peculiar, relative properties, and personal relations which doctrine of the Trinity is the foundation of all our communion with God, and comfortable dependence on Him.’

  • Footnotes: 27. 1Jn 5:7; Mt 28:19; 2Co 13:14; 28. Ex 3:14; Jn 14:11; 1Co 8:6; 29. Jn 1:14, 18. 30. Jn 15:26; Gal 4:6.

Link in English

 

Tuyên Xưng Philadelphia (1742)

Đoạn 2: Giáo Lý Về Đức Chúa Trời Và Đức Chúa Trời Ba Ngôi Hiệp Một

‘1. Đức Chúa Trời của chúng ta là [a] Đức Chúa Trời tự hữu hằng hữu là Đấng [b] duy nhất hằng sống và chân thật, là Đấng [c] mà thực thể Ngài là vô hạn và hoàn hảo, là Đấng mà bản thể Ngài không thể nào được bất cứ gì ngoài Ngài lĩnh hội hết được, [d] Ngài là một thực thể thần linh tối tinh anh, [e] bất khả thị, phi thân thể, phi thành phần và bất khả tác động, là Đấng duy nhất bất tử, Ngài ngự trong sự sáng bất khả tiếp cận, [f] là Đấng bất khả biến đổi, [g] là Đấng vô hạn, [h] là Đấng đời đời, là Đấng bất khả tận tri, [i] là Đấng toàn năng, là Đấng vô giới hạn trên mọi phương diện, [k] là Đấng tối thánh khiết, tối khôn ngoan, tối tự ý, tối tuyệt đối, [l] là Đấng khiến cho tất cả mọi sự hợp theo sự định mạng bởi ý chỉ tối công nghĩa và bất khả kháng của Ngài [m] cho sự vinh hiển của chính Ngài, là Đấng giàu yêu thương hơn hết, giàu nhân từ hơn hết, giàu thương xót hơn hết, giàu chịu đựng hơn hết, là Đấng tha thứ cho sự trái nghịch, sự vi phạm và tội lỗi, [n] là Đấng ban thưởng cho những ai hết lòng tìm kiếm Ngài, đồng thời [o] Ngài cũng là Đấng phán xét tối công bằng và đáng kinh khiếp nhất, [p] Ngài gớm ghiếc mọi tội lỗi và ngoài Ngài ra thì chẳng có bất gì có thể giải [q] tội đối với Ngài được.

  • Lời chú ở cuối trang: [a] Giê. 10:10; Ês. 48:12; [b] 1Cô. 8:4, 6; Phục. 6:4; [c] Xuất. 3:14; [d] Gi. 4:24; [e] 1Ti. 1:17; Phục. 4:15, 16; [f] Mal. 3:6; [g] 1Vua. 8:27; Giê. 23:23; [h] Thi. 90:2; [i] Sáng. 17:1; [k] Ês. 6:3; [1] Thi. 115:3; Ês. 46:10; [m] Châm. 16:4; Rô. 11:36; [n] Xuất. 34:6, 7; Hê. 11:6; [o] Nê. 9:32, 33; [p] Thi. 5:5, 6; [q] Xuất. 34:7; Na. 1:2, 3;

 

‘2. Đức Chúa Trời là Đấng tự sở hữu trọn vẹn [r] sự sống, [s] sự vinh hiển, [t] sự thiện hảo, sự phước hạnh [u] không hề cần bất cứ tạo vật nào của Ngài để làm nên sự vinh hiển Ngài hay bổ sung cho sự vinh hiển Ngài mà là sự vinh hiển Ngài được hiển thị trên các tạo vật Ngài và qua các tạo vật Ngài, Ngài là [x] nguồn duy nhất để từ đó và qua đó mọi sự hiện hữu và tồn tại, và Ngài nắm [y] quyền tể trị tối cao trên toàn cõi thọ tạo là quyền làm mọi sự hiệp theo ý chỉ Ngài qua giới thọ tạo ấy, cho giới thọ tạo ấy, và trên giới thọ tạo ấy; dưới [z] tầm nhìn Ngài mọi sự đều được phơi bày, [a] sự hiểu biết Ngài là vô hạn, bất bại và độc lập đối với giới thọ tạo; đối với Ngài chẳng có sự chi là ngẫu nhiên hay bất định; Ngài là Đấng chí thánh trong mọi ý chỉ Ngài, trong mọi công việc Ngài, trong mọi mệnh lệnh Ngài; [b] Ngài có đầy đủ quyền của Đấng Sáng Tạo đối với loài thọ tạo để đòi hỏi bất cứ [c] thiên sứ hay con người nào sự thờ phượng, sự hầu việc, sự vâng phục hay bất cứ sự gì khác.

  • Lời chú ở cuối trang: [r] 5:26; [s] Thi. 148:13; [t] Thi. 119:68; [u] Gióp 22:2, 3; [x] Rô. 11:34, 35, 36; [y] Đa. 4:25, 34, 35; [z] Hê. 4:13; [a] Êx. 11:5. Công. 15:18; [b] Thi. 145:17; [c] Khải. 5:12, 13, 14;

 

‘3. Trong Thực Thể Thiên Thượng Tự Hữu Và Vô Hạn này (Đức Chúa Trời) có sự thực hữu của [d] ba Thân Vị Thiên Thượng là Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con (hay “Ngôi Lời”), và Đức Thánh Linh đồng hữu cùng một bản thể, một quyền năng, một tính đời đời, mỗi Thân Vị đều tự hữu trọn vẹn bản chất thiên thượng [e] vốn không bao giờ phân ly, Đức Chúa Cha tự hữu cách vô khởi xuất, [f] đời đời Đức Chúa Con khởi xuất bởi Đức Chúa Cha, [g] Đức Thánh Linh khởi xuất từ Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con, cả ba Thân Vị đều vô thỉ vô chung trong duy nhất một Đức Chúa Trời bất khả phân ly về bản chất và về sự thực hữu nhưng lại được tách vạch nhau bởi các thuộc tính về quan hệ và các quan hệ tương tùy giữa các Thân Vị; chính từ các lẽ thật này mà giáo lý Kinh Thánh về Đức Chúa Trời Ba Ngôi Hiệp Một (tức Tam Vị Nhất Thể) là giáo lý nền tảng cho mối giao thông giữa chúng ta với Đức Chúa Trời, và cho sự nương cậy bình an của chúng ta đối với Ngài.’

  • Lời chú ở cuối trang: [d] 5:7; Ma. 28:19; 2Cô. 13:14; [e] Xuất. 3:14; Gi. 14:11; 1Cô. 8:6; [f] Gi. 1:14, 18; [g] Gi. 15:26; Gal. 4:6.

Link bằng Tiếng Việt

 

Ba Ngôi Đức Chúa Trời (Chart or diagram of Trinity)—part 5

 

 

Trinity diagram VN Trinity diagram EN

-Original source unknown

Note: At the bottom of the English chart, “Son” (Con) and “Holy Spirit” (Thánh Linh) are on opposite sides than the Vietnamese chart: “Thánh Linh” (Holy Spirit) and “Con” (Son).

GSiV: Trinitarian Illustrations & Outline

Ba Ngôi Đức Chúa Trời (Trinity)—part 4

Vietnamese Theological Review has some helpful posts. Here’s an excerpt about the Trinity:

Question: ‘I hear people say that Protestants say that there is only one God but there is a Trinity. I really don’t understand. Please explain for me. Thank you.’

Tôi nghe những người Tin Lành nói rằng chỉ có Một Đức Chúa Trời nhưng có Ba Ngôi: Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh, tôi thật sự không hiểu. Xin vui lòng giải thích giùm tôi. Xin cảm ơn.’
Answer: ‘Cảm ơn Chúa cho Bạn thính giả đã có câu hỏi thuộc vào loại khó nhất trong các lẽ đạo của người Tin Lành. Quả đúng như vậy, theo sự mặc khải của Đức Chúa Trời trong Kinh thánh, Đức Chúa Trời mà người Tin Lành tin và thờ phượng là Đức Chúa Trời có Ba Ngôi nhưng Hiệp Một, đồng đẳng, đồng quyền, đồng thể yếu, bất phân ly. Nói tóm một lời là Ba Mà Là Một, Một Mà Là Ba!

‘I. Tôi xin nói về TẦM QUAN TRỌNG CỦA LẼ ĐẠO ĐỨC CHÚA TRỜI BA NGÔI:

‘Sở dĩ tôi nói đây là câu hỏi thuộc loại khó nhất trong các lẽ đạo là như câu nói của nhà Thần học…
‘1. Nếu không tin Đức Chúa Trời Ba Ngôi thì mất sự cứu rỗi….
‘2. Nếu càng cố cậy khôn ngoan loài người để giải thích Đức Chúa Trời Ba Ngôi thì mất linh hồn….’

Đọc bài viết ở đây

Ba Ngôi Đức Chúa Trời (Trinity: Outline)—part 3

The Trinity

 

There is one God

Deuteronomy 6:4, “Hear, O Israel! The Lord our God, the Lord is one.”

 

The Father is God

Ephesians 1:3, “Blessed be the God and Father of our Lord Jesus Christ.”

 

The Son is God

Colossians 2:9, “For in Him all the fullness of Deity dwells in bodily form.”

 

The Spirit is God

Acts 5:3-4, “But Peter said, ‘Ananias, why has Satan filled your heart to lie to the Holy Spirit . . . ?  You have not lied to men, but to God.'”

 

The Father is not the Son

John 3:16, “God so loved the world that He gave His only begotten son. . . .”

 

The Son is not the Spirit

John 14:16, “I will ask the Father, and He will give you another Helper.”

 

The Spirit is not the Father

John 14:26, “But the Helper, the Holy Spirit, whom the Father will send in my name. . . .”

 

The Father is a Person

Luke 22:42, “Father, if You are willing, remove this cup from Me; yet not My will, but Yours be done.”

 

The Son is a Person

Ephesians 5:25, “Christ also loved the church.”

 

The Spirit is a Person

Ephesians 4:30, “Do not grieve the Holy Spirit of God. . . .”

 

Ba Ngôi

 

Chỉ có một Thiên Chúa, đó là Đức Chúa Trời

Phục Truyền 6:4, “Toàn dân Y-sơ-ra-ên hãy nghe đây! CHÚA, Đức Chúa Trời của chúng ta là CHÚA có một không hai.”

 

Đức Chúa Cha là Đức Chúa Trời

Ê-phê-sô 1:3, “Chúc tụng Đức Chúa Trời, Cha của Chúa Cứu Thế Giê-su, Chúa chúng ta, là Đấng đã ban đủ mọi phúc lành thiêng liêng trên trời cho chúng ta trong Chúa Cứu Thế.”

 

Đức Chúa Con là Đức Chúa Trời

Cô-lô-se 2:9, “Vì trong Ngài tất cả đầy đủ thần tính Đức Chúa Trời ngự trong thân xác”

 

Đức Chúa Thánh Linh là Đức Chúa Trời

Công Vụ 5:3-4, “Phê-rơ hỏi: “Ông A-na-nia, sao Sa-tan đã đầy dẫy lòng ông đến nỗi ông nói dối với Đức Thánh Linh . . . ? Không phải ông dối người đâu mà dối Đức Chúa Trời đó!”

 

Đức Chúa Cha không phải là Đức Chúa Con

Giăng 3:16, “Vì Đức Chúa Trời yêu thương nhân loại, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài”

 

Đức Chúa Con không phải là Đức Chúa Thánh Linh

Giăng 14:16, “Ta sẽ xin Cha và Ngài sẽ ban cho các con một Đấng Phù Hộ ở cùng các con đời đời.”

 

Đức Chúa Thánh Linh không phải là Đức Chúa Cha

Giăng 14:26, “Nhưng khi Đấng Phù Hộ đến, tức là Thánh Linh mà Cha nhân danh Ta phái đến. . . .”

 

Đức Chúa Cha là một ngôi

Lu-ca 22:42, “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này khỏi Con! Dầu vậy, xin đừng theo ý Con, nhưng xin ý Cha được nên!”

 

Đức Chúa Con là một ngôi

Ê-phê-sô 5:25, “Hỡi các người chồng, hãy yêu vợ như Chúa Cứu Thế yêu Hội Thánh . . . .”

 

Đức Chúa Thánh Linh là một ngôi

Ê-phê-sô 4:30, “Đừng làm buồn lòng Thánh Linh của Đức Chúa Trời, nhờ Ngài anh chị em được đóng ấn cho ngày cứu chuộc.”

 

Danger of Illustrations about the Trinity