QUYỀN NĂNG CAO CẢ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI Ở VIỆT NAM (Ê-phê 1:4-5)

Ba Ngôi Đức Chúa Trời (Trinity: Confession)—part 6

Philadelphia Baptist Confession of Faith (1742)

Chapter 2: Of God and of the Holy Trinity

‘THE LORD OUR GOD is but one only living, and true God;1 whose subsistence is in and of Himself,2 infinite in being and perfections, whose essence cannot be comprehended by any but Himself;3 a most pure spirit,4 invisible, without body, parts or passions, who only hath immortality, dwelling in the light which no man can approach unto,5 who is immutable, immense,7 eternal,8 incomprehensible, almighty,9 every way infinite, most holy,10 most wise, most free, most absolute, working all things according to the counsel of His own immutable and most righteous will,11 for His own glory,12 most loving, gracious, merciful, long-suffering, abundant in goodness and truth, forgiving iniquity, transgression and sin, the rewarder of them that diligently seek Him,13 and withal most just, and terrible in His judgements,14 hating all sin,15 and will by no means clear the guilty.16

  • Footnotes: 1. 1Co 8:4, 6; Dt 6:4; 2. Jer 10:10; Isa 48:12; 3. Ex 3:14; 4. Jn 4:24; 5. 1Ti 1:17; Dt 4:15-16; 6. Mal 3:6; 7. 1Ki 8:27; Jer 23:23; 8. Ps 90:2; 9. Ge 17:1; 10. Isa 6:3; 11. Ps 115:3; Isa 46:10; 12. Pr 16:4; Ro 11:36; 13. Ex 34:6-7; Heb 11:6; 14. Ne 9:32-33; 15. Ps 5:5-6; 16. Ex 34:7; Na 1:2-3;

 

‘God, having all life,17 glory,18 goodness,19 blessedness, in and of Himself, is alone in, and unto Himself all-sufficient, not standing in need of any creature which He hath made, nor deriving any glory from them,20 but only manifesting His own glory in, by, unto, and upon them, He is the alone fountain of all being of whom, through whom, and to whom are all things,21 and He hath most sovereign dominion over all creatures, to do by them, for them, or upon them, whatsoever Himself pleaseth;22 in His sight all things are open and manifest,23 His knowledge is infinite, infallible, and independent upon the creature, so as nothing is to Him contingent or uncertain,24 He is most holy in all His counsels, in all His works,25 and in all His commands; to Him is due from angels and men, whatsoever worship,26 service, or obedience, as creatures they owe unto the Creator, and whatever He is further pleased to require of them.

  • Footnotes: 17. Jn 5:26; 18. Ps 148:13; 19. Ps 119:68; 20. Job 22:2-3; 21. Ro 11:34-36; 22. Da 4:25, 34-35; 23. Heb 4:13; 24. Eze 11:5; Ac 15:18; 25. Ps 145:17; 26. Rev 5:12-14;

 

‘In this divine and infinite Being there are three subsistences, the Father, the Word (or Son), and Holy Spirit,27 of one substance, power and eternity, each having the whole divine essence, yet the essence undivided;28 the Father is of none neither begotten nor proceeding, the Son is eternally begotten of the Father,29 the Holy Spirit proceeding from the Father and the Son,30 all infinite, without beginning, therefore but one God, who is not to be divided in nature and being, but distinguished by several peculiar, relative properties, and personal relations which doctrine of the Trinity is the foundation of all our communion with God, and comfortable dependence on Him.’

  • Footnotes: 27. 1Jn 5:7; Mt 28:19; 2Co 13:14; 28. Ex 3:14; Jn 14:11; 1Co 8:6; 29. Jn 1:14, 18. 30. Jn 15:26; Gal 4:6.

Link in English

 

Tuyên Xưng Philadelphia (1742)

Đoạn 2: Giáo Lý Về Đức Chúa Trời Và Đức Chúa Trời Ba Ngôi Hiệp Một

‘1. Đức Chúa Trời của chúng ta là [a] Đức Chúa Trời tự hữu hằng hữu là Đấng [b] duy nhất hằng sống và chân thật, là Đấng [c] mà thực thể Ngài là vô hạn và hoàn hảo, là Đấng mà bản thể Ngài không thể nào được bất cứ gì ngoài Ngài lĩnh hội hết được, [d] Ngài là một thực thể thần linh tối tinh anh, [e] bất khả thị, phi thân thể, phi thành phần và bất khả tác động, là Đấng duy nhất bất tử, Ngài ngự trong sự sáng bất khả tiếp cận, [f] là Đấng bất khả biến đổi, [g] là Đấng vô hạn, [h] là Đấng đời đời, là Đấng bất khả tận tri, [i] là Đấng toàn năng, là Đấng vô giới hạn trên mọi phương diện, [k] là Đấng tối thánh khiết, tối khôn ngoan, tối tự ý, tối tuyệt đối, [l] là Đấng khiến cho tất cả mọi sự hợp theo sự định mạng bởi ý chỉ tối công nghĩa và bất khả kháng của Ngài [m] cho sự vinh hiển của chính Ngài, là Đấng giàu yêu thương hơn hết, giàu nhân từ hơn hết, giàu thương xót hơn hết, giàu chịu đựng hơn hết, là Đấng tha thứ cho sự trái nghịch, sự vi phạm và tội lỗi, [n] là Đấng ban thưởng cho những ai hết lòng tìm kiếm Ngài, đồng thời [o] Ngài cũng là Đấng phán xét tối công bằng và đáng kinh khiếp nhất, [p] Ngài gớm ghiếc mọi tội lỗi và ngoài Ngài ra thì chẳng có bất gì có thể giải [q] tội đối với Ngài được.

  • Lời chú ở cuối trang: [a] Giê. 10:10; Ês. 48:12; [b] 1Cô. 8:4, 6; Phục. 6:4; [c] Xuất. 3:14; [d] Gi. 4:24; [e] 1Ti. 1:17; Phục. 4:15, 16; [f] Mal. 3:6; [g] 1Vua. 8:27; Giê. 23:23; [h] Thi. 90:2; [i] Sáng. 17:1; [k] Ês. 6:3; [1] Thi. 115:3; Ês. 46:10; [m] Châm. 16:4; Rô. 11:36; [n] Xuất. 34:6, 7; Hê. 11:6; [o] Nê. 9:32, 33; [p] Thi. 5:5, 6; [q] Xuất. 34:7; Na. 1:2, 3;

 

‘2. Đức Chúa Trời là Đấng tự sở hữu trọn vẹn [r] sự sống, [s] sự vinh hiển, [t] sự thiện hảo, sự phước hạnh [u] không hề cần bất cứ tạo vật nào của Ngài để làm nên sự vinh hiển Ngài hay bổ sung cho sự vinh hiển Ngài mà là sự vinh hiển Ngài được hiển thị trên các tạo vật Ngài và qua các tạo vật Ngài, Ngài là [x] nguồn duy nhất để từ đó và qua đó mọi sự hiện hữu và tồn tại, và Ngài nắm [y] quyền tể trị tối cao trên toàn cõi thọ tạo là quyền làm mọi sự hiệp theo ý chỉ Ngài qua giới thọ tạo ấy, cho giới thọ tạo ấy, và trên giới thọ tạo ấy; dưới [z] tầm nhìn Ngài mọi sự đều được phơi bày, [a] sự hiểu biết Ngài là vô hạn, bất bại và độc lập đối với giới thọ tạo; đối với Ngài chẳng có sự chi là ngẫu nhiên hay bất định; Ngài là Đấng chí thánh trong mọi ý chỉ Ngài, trong mọi công việc Ngài, trong mọi mệnh lệnh Ngài; [b] Ngài có đầy đủ quyền của Đấng Sáng Tạo đối với loài thọ tạo để đòi hỏi bất cứ [c] thiên sứ hay con người nào sự thờ phượng, sự hầu việc, sự vâng phục hay bất cứ sự gì khác.

  • Lời chú ở cuối trang: [r] 5:26; [s] Thi. 148:13; [t] Thi. 119:68; [u] Gióp 22:2, 3; [x] Rô. 11:34, 35, 36; [y] Đa. 4:25, 34, 35; [z] Hê. 4:13; [a] Êx. 11:5. Công. 15:18; [b] Thi. 145:17; [c] Khải. 5:12, 13, 14;

 

‘3. Trong Thực Thể Thiên Thượng Tự Hữu Và Vô Hạn này (Đức Chúa Trời) có sự thực hữu của [d] ba Thân Vị Thiên Thượng là Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con (hay “Ngôi Lời”), và Đức Thánh Linh đồng hữu cùng một bản thể, một quyền năng, một tính đời đời, mỗi Thân Vị đều tự hữu trọn vẹn bản chất thiên thượng [e] vốn không bao giờ phân ly, Đức Chúa Cha tự hữu cách vô khởi xuất, [f] đời đời Đức Chúa Con khởi xuất bởi Đức Chúa Cha, [g] Đức Thánh Linh khởi xuất từ Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con, cả ba Thân Vị đều vô thỉ vô chung trong duy nhất một Đức Chúa Trời bất khả phân ly về bản chất và về sự thực hữu nhưng lại được tách vạch nhau bởi các thuộc tính về quan hệ và các quan hệ tương tùy giữa các Thân Vị; chính từ các lẽ thật này mà giáo lý Kinh Thánh về Đức Chúa Trời Ba Ngôi Hiệp Một (tức Tam Vị Nhất Thể) là giáo lý nền tảng cho mối giao thông giữa chúng ta với Đức Chúa Trời, và cho sự nương cậy bình an của chúng ta đối với Ngài.’

  • Lời chú ở cuối trang: [d] 5:7; Ma. 28:19; 2Cô. 13:14; [e] Xuất. 3:14; Gi. 14:11; 1Cô. 8:6; [f] Gi. 1:14, 18; [g] Gi. 15:26; Gal. 4:6.

Link bằng Tiếng Việt

 

Ba Ngôi Đức Chúa Trời (Chart or diagram of Trinity)—part 5

 

 

Trinity diagram VN Trinity diagram EN

-Original source unknown

Note: At the bottom of the English chart, “Son” (Con) and “Holy Spirit” (Thánh Linh) are on opposite sides than the Vietnamese chart: “Thánh Linh” (Holy Spirit) and “Con” (Son).

GSiV: Trinitarian Illustrations & Outline

Ba Ngôi Đức Chúa Trời (Trinity)—part 4

Vietnamese Theological Review has some helpful posts. Here’s an excerpt about the Trinity:

Question: ‘I hear people say that Protestants say that there is only one God but there is a Trinity. I really don’t understand. Please explain for me. Thank you.’

Tôi nghe những người Tin Lành nói rằng chỉ có Một Đức Chúa Trời nhưng có Ba Ngôi: Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh, tôi thật sự không hiểu. Xin vui lòng giải thích giùm tôi. Xin cảm ơn.’
Answer: ‘Cảm ơn Chúa cho Bạn thính giả đã có câu hỏi thuộc vào loại khó nhất trong các lẽ đạo của người Tin Lành. Quả đúng như vậy, theo sự mặc khải của Đức Chúa Trời trong Kinh thánh, Đức Chúa Trời mà người Tin Lành tin và thờ phượng là Đức Chúa Trời có Ba Ngôi nhưng Hiệp Một, đồng đẳng, đồng quyền, đồng thể yếu, bất phân ly. Nói tóm một lời là Ba Mà Là Một, Một Mà Là Ba!

‘I. Tôi xin nói về TẦM QUAN TRỌNG CỦA LẼ ĐẠO ĐỨC CHÚA TRỜI BA NGÔI:

‘Sở dĩ tôi nói đây là câu hỏi thuộc loại khó nhất trong các lẽ đạo là như câu nói của nhà Thần học…
‘1. Nếu không tin Đức Chúa Trời Ba Ngôi thì mất sự cứu rỗi….
‘2. Nếu càng cố cậy khôn ngoan loài người để giải thích Đức Chúa Trời Ba Ngôi thì mất linh hồn….’

Đọc bài viết ở đây

Ba Ngôi Đức Chúa Trời (Trinity: Outline)—part 3

The Trinity

 

There is one God

Deuteronomy 6:4, “Hear, O Israel! The Lord our God, the Lord is one.”

 

The Father is God

Ephesians 1:3, “Blessed be the God and Father of our Lord Jesus Christ.”

 

The Son is God

Colossians 2:9, “For in Him all the fullness of Deity dwells in bodily form.”

 

The Spirit is God

Acts 5:3-4, “But Peter said, ‘Ananias, why has Satan filled your heart to lie to the Holy Spirit . . . ?  You have not lied to men, but to God.'”

 

The Father is not the Son

John 3:16, “God so loved the world that He gave His only begotten son. . . .”

 

The Son is not the Spirit

John 14:16, “I will ask the Father, and He will give you another Helper.”

 

The Spirit is not the Father

John 14:26, “But the Helper, the Holy Spirit, whom the Father will send in my name. . . .”

 

The Father is a Person

Luke 22:42, “Father, if You are willing, remove this cup from Me; yet not My will, but Yours be done.”

 

The Son is a Person

Ephesians 5:25, “Christ also loved the church.”

 

The Spirit is a Person

Ephesians 4:30, “Do not grieve the Holy Spirit of God. . . .”

 

Ba Ngôi

 

Chỉ có một Thiên Chúa, đó là Đức Chúa Trời

Phục Truyền 6:4, “Toàn dân Y-sơ-ra-ên hãy nghe đây! CHÚA, Đức Chúa Trời của chúng ta là CHÚA có một không hai.”

 

Đức Chúa Cha là Đức Chúa Trời

Ê-phê-sô 1:3, “Chúc tụng Đức Chúa Trời, Cha của Chúa Cứu Thế Giê-su, Chúa chúng ta, là Đấng đã ban đủ mọi phúc lành thiêng liêng trên trời cho chúng ta trong Chúa Cứu Thế.”

 

Đức Chúa Con là Đức Chúa Trời

Cô-lô-se 2:9, “Vì trong Ngài tất cả đầy đủ thần tính Đức Chúa Trời ngự trong thân xác”

 

Đức Chúa Thánh Linh là Đức Chúa Trời

Công Vụ 5:3-4, “Phê-rơ hỏi: “Ông A-na-nia, sao Sa-tan đã đầy dẫy lòng ông đến nỗi ông nói dối với Đức Thánh Linh . . . ? Không phải ông dối người đâu mà dối Đức Chúa Trời đó!”

 

Đức Chúa Cha không phải là Đức Chúa Con

Giăng 3:16, “Vì Đức Chúa Trời yêu thương nhân loại, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài”

 

Đức Chúa Con không phải là Đức Chúa Thánh Linh

Giăng 14:16, “Ta sẽ xin Cha và Ngài sẽ ban cho các con một Đấng Phù Hộ ở cùng các con đời đời.”

 

Đức Chúa Thánh Linh không phải là Đức Chúa Cha

Giăng 14:26, “Nhưng khi Đấng Phù Hộ đến, tức là Thánh Linh mà Cha nhân danh Ta phái đến. . . .”

 

Đức Chúa Cha là một ngôi

Lu-ca 22:42, “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này khỏi Con! Dầu vậy, xin đừng theo ý Con, nhưng xin ý Cha được nên!”

 

Đức Chúa Con là một ngôi

Ê-phê-sô 5:25, “Hỡi các người chồng, hãy yêu vợ như Chúa Cứu Thế yêu Hội Thánh . . . .”

 

Đức Chúa Thánh Linh là một ngôi

Ê-phê-sô 4:30, “Đừng làm buồn lòng Thánh Linh của Đức Chúa Trời, nhờ Ngài anh chị em được đóng ấn cho ngày cứu chuộc.”

 

Danger of Illustrations about the Trinity

 

Ba Ngôi Đức Chúa Trời (Trinity)—part 2

Illustrations about the Trinity

When it comes to illustrating the Trinity it is best not to. Typically illustrations will teach more error than truth.

 

Below is one teacher’s WRONG teachings about the theology of the Trinity

‘Water may serve as a “three-in-one” illustration since it retains its chemical activity whether in solid, gas, or liquid state. There is also a triple point for water, a condition under which ice, steam, and liquid water can coexist in equilibrium. All are water, yet distinct from each other.’

 

Dưới đây là đánh giá SAI của một thầy về thần học của Ba Ngôi Đức Chúa Trời

‘Nước có thể minh họa “ba trong một” vì giữ lại được những hoạt tính hóa học của nó dầu ở dạng rắn, hơi, hay lỏng. Cũng có một điểm bộ ba mà tại đó tình trạng nước đá, hơi nước và nước dạng lỏng đồng tồn tại trong trạng thái cân bằng. Cả thảy đều là nước nhưng khác biệt với nhau.’

-Charles Ryrie, Basic Theology, p. 63 / Thần Học Căn Bản, p. 67

Ba Ngôi Đức Chúa Trời (Trinity)—part 1

Our churches are not Christian if they aren’t Trinitarian. Does your church embrace all that the Bible teaches about God’s one-ness and his three-ness?

‘1) There is one God (Deuteronomy 6:4; 1 Corinthians 8:4; Galatians 3:20; 1 Timothy 2:5).
‘2) The Trinity consists of three Persons (Genesis 1:1, 26; 3:22; 11:7; Isaiah 6:8, 48:16, 61:1; Matthew 3:16-17, 28:19; 2 Corinthians 13:14).
‘3) The members of the Trinity are distinguished one from another in various passages.
‘4) Each member of the Trinity is God.
‘5) There is subordination within the Trinity.
‘6) The individual members of the Trinity have different tasks.’

‘1. Có một Đức Chúa Trời: Phục truyền luật lệ ký 6:4; 1 Cô-rinh-tô 8:4; Ga-la-ti 3:20; I Ti-mô-thê 2:5.

‘2. Đức Chúa Trời Ba ngôi gồm có ba thân vị.

‘3. Các thân vị trong Ba ngôi Đức Chúa Trời được phân biệt từng vị một trong nhiều chỗ trong Kinh Thánh.

‘4. Mỗi thân vị trong Ba ngôi là Đức Chúa Trời….

‘5. Sự lệ thuộc trong Ba ngôi Đức Chúa Trời….

‘6. Công tác của từng thân vị trong Ba ngôi….’

Read the whole article here

Đọc bài viết ở đây

Teaching about Predestination

If you believe in predestination, and you should, then you should talk about it with Christians and encourage them to believe it too. Here’s one author’s helpful suggestions from an experience with high school students.

 

  • ‘1. I highlighted that this side of heaven, there are going to be some things we simply don’t fully understand about God….
  • ‘2. I also spent time talking about the truth (seen throughout the book of Romans) that makes it abundantly clear that God’s choosing me has absolutely nothing to do with me deserving to be chosen. We talked about the fact that if God chooses me, it is actually in spite of the fact that I deserve to go to hell.
  • ‘3. We then talked about how amazing it is that God, in eternity past (even before creation), spent time thinking about me – choosing me….’

 

The author made another good point: ‘It also makes for a really hopeful discussion in Senior High Sunday School class where students don’t feel like they need to apologize for their God’s sovereign decisions.’

Read the whole article here

Researching Calvinism and Missions?

Consider these resources:

Van den Berg, “Calvin’s Missionary Message: Some Remarks About the Relation Between Calvinism and Missions,” Evangelical Missions Quarterly 22 (1950): 174-187.

Carr Sargant, “Calvinism, Arminianism and Missions,” London Quarterly and Holborn Review 176 (1951): 340-344.

M. Zwemer, “Calvinism and the Missionary Enterprise,” Theology Today 7 (1950): 206-221.

Kenneth J. Stewart, Ten Myths About Calvinism: Recovering the Breadth of the Reformed Tradition, 2011.

Also see these articles at GSiV:

To the Ends of the Earth: Calvin’s Missional Vision and Legacy

Evangelism and Calvinism

Calvinism: fan a flame for God’s glory in missions

Mối đe dọa đối với truyền giáo và truyền giảng? (Đoạn 24: Xem chi tiết)

 

Regeneration, God’s Grace, New Birth–Part 5

Sự Tái Sinh Bằng Quyết Định Là Gì?

What is “decisional regeneration”?

English

 

English and Vietnamese

 

Vietnamese (and some English)

Regeneration, God’s Grace, New Birth–Part 4

“We’ve been telling people the lie…that if you do this [pray a prayer], then God will make you born again. You see the only difference between baptismal regeneration and decisional regeneration is the new birth is just attached to a different act. On one it’s water and on the other it’s a prayer.”

-Audio: Timothy Juhnke “Decisional Regeneration,” Around the 27:00-29:00 minute point.

How Free is the Will?

Philadelphia Baptist Confession of Faith (1742)

Chapter 9: Of Free Will

  1. God hath endued the will of man with that natural liberty and power of acting upon choice, that it is neither forced, nor by any necessity of nature determined to do good or evil.[1 ]
  2. Man, in his state of innocency had freedom, and power, to will, and to do, that which was good, and well-pleasing to God;[2] but yet was mutable, so that he might fall from it.[3]
  3. Man, by his fall unto a state of sin, hath wholly lost all ability of will to any spiritual good accompanying salvation;[4] so as a natural man, being altogether averse from that good and dead in sin,[5] is not able, by his own strength, to convert himself or to prepare himself thereunto.[6]
  4. When God converts a sinner, and translates him into the state of grace, He freeth him from his natural bondage under sin,[7] and by His grace alone, enables him freely to will, and do that which is spiritually good;[8] yet so that, by reason of his remaining corruptions, he doth not perfectly nor only will that which is good, but doth also will that which is evil.[9]
  5. The will of man is made perfectly and immutably free to good alone in the state of glory only.[10]

Footnotes: 1. Mt 17:12; Jas 1:14; Dt 30:19; 2. Ecc 7:29; 3. Ge 3:6; 4. Ro 5:6; 8:7; 5. Eph 2:1,5; 6. Tit 3:3-5; Jn 6:44; 7. Col 1:13; Jn 8:36; 8. Php 2:13; 9. Ro 7:15,18-19,21,23; 10. Eph 4:13.

Link in English

Tuyên Xưng Philadelphia (1742)

Đoạn 9: Về ý chí tự do

  1. Đức Chúa Trời đã phú cho con người bản chất tự do và năng lực hành động theo sự chọn lựa chủ quan, tức không hề bị thúc ép, cũng không phải bởi [a] một khuynh hướng hoặc thiện, hoặc ác nào quyết định.
  2. Trong trạng thái vô tội uyên nguyên con người đã từng có sự tự do và năng lực ý chí để làm theo những gì tốt và đẹp ý Đức Chúa Trời, nhưng năng lực và ý chí ấy ấy không hề bị cưỡng buộc cho nên con người không thể cứ luôn luôn làm theo điều tốt và làm điều đẹp ý Đức Chúa Trời.
  3. Trong trạng thái sa bại trong tội lỗi loài người đã mất hẳn [d] năng lực chọn lựa làm theo điều thiện là điều sẽ có sau khi đã được cứu cho nên người chưa được cứu không có khuynh hướng làm theo điều thiện cách tự nhiên, họ [e] đang chết trong tội lỗi mình, họ không có năng lực [f] tự biến cải mình hoặc tự chuẩn bị mình cho sự biến cải hướng về sự thiện hảo.
  4. Khi Đức Chúa Trời biến cải một tội nhân và đem người ấy vào trong ân điển Ngài thì [g] Ngài giải thoát họ khỏi ách tội vốn có, và chỉ duy nhất bằng ân điển của Ngài mà Đức Chúa Trời giải thoát họ để họ biết [h] vừa muốn vừa làm theo các sự thiện hảo thuộc linh; dẫu vậy, vì cớ [i] sức mạnh của tội lỗi vẫn cứ còn trong con người mình mà họ vẫn chưa được hoàn hảo và họ không chỉ muốn làm điều thiện mà cũng lại còn còn muốn làm theo điều ác nữa.
  5. Bản chất tự do và năng lực hành động [k] hoàn toàn theo điều thiện của con người chỉ được tái lập trong trạng thái vinh hiển khi họ được ở trong sự vinh hiển của Đức Chúa Trời mà thôi.

Lời chú ở cuối trang: [a] Ma. 17:12; Gia. 1:14; Phục. 30:19; [b] Truyền. 7:29; [c] Sáng. 3:6; [d] Rô. 5:6; 8:7; [e] Êph. 2:1, 5; [f] Tít 3:3, 4, 5; Gi. 6:44; [g] Côl. 1:13; Gi. 8:36; [h] Php. 2:13; [i] Rô. 7:15, 18, 19, 21, 22, 23; [k] Êph. 4:13

Link bằng Tiếng Việt

 

To the Ends of the Earth

“Does a belief in sovereign grace stymie missions and evangelism? If that belief is rightly understood and rightly applied, the answer is an emphatic no….”

-Jason K. Allen, President, Midwestern Baptist Theological Seminary and College

 

Too often those who least understand the biblical doctrine of Calvinism accuse Calvinists of a non-evangelistic spirit and practice. We do often wonder how frequently those same accusers share their faith with the lost. Nonetheless, the more we study church history the more we see that a life centered on God’s glory leads to passion and boldness for Christ’s mission.

 

To the Ends of the Earth: Calvin’s Missional Vision and Legacy

By Michael A. G. Haykin & C. Jeffrey Robinson Sr.

 

Table of Contents

  • For God So Loved the World”: John Calvin’s Missional Exegesis
  • A Sacrifice Well Pleasing to God”: The Dynamics of John Calvin’s Theology of Mission
  • How Very Important This Corner Is”: The Calvinistic Missions to France and Brazil
  • To Convert the World”: The Puritans and Being Missional in the Seventeenth Century
  • Advancing the Kingdom of Christ”: Missional Praying—the Example of Jonathan Edwards
  • An Instrument of Establishing the Empire of My Dear Lord”: Developing a Missional Passion—the Way of Samuel Pearce

 

(Tại GSiV Xem chi tiết đoạn 24)